Cambridge IELTS 16 Listening Test 1
Transcript tiếng Anh đầy đủ từ file gốc · Bản dịch tiếng Việt sát nghĩa · Đáp án được gạch chân ở phần tiếng Anh.
Part 1
SARAH: Hello. Children’s Engineering Workshops.
FATHER: Oh hello. I wanted some information about the workshops in the school holidays.
SARAH: Sure.
FATHER: I have two daughters who are interested. The younger one’s Lydia, she’s four – do you take children as young as that?
SARAH: Yes, our Tiny Engineers workshop is for four to five-year-olds.
FATHER: What sorts of activities do they do?
SARAH: All sorts. For example, they work together to design a special cover that goes round an egg (Q1), so that when it’s inside they can drop it from a height and it doesn’t break. Well, sometimes it does break but that’s part of the fun!
FATHER: Right. And Lydia loves building things. Is there any opportunity for her to do that?
SARAH: Well, they have a competition to see who can make the highest tower (Q2). You’d be amazed how high they can go.
FATHER: Right.
SARAH: But they’re learning all the time as well as having fun. For example, one thing they do is to design and build a car (Q3) that’s attached to a balloon, and the force of the air in that actually powers the car and makes it move along. They go really fast too.
FATHER: OK, well, all this sounds perfect.
FATHER: Now Carly, that’s my older daughter, has just had her seventh birthday, so presumably she’d be in a different group?
SARAH: Yes, she’d be in the Junior Engineers. That’s for children from six to eight.
FATHER: And do they do the same sorts of activities?
SARAH: Some are the same, but a bit more advanced. So they work out how to build model vehicles, things like cars and trucks, but also how to construct animals (Q4) using the same sorts of material and technique, and then they learn how they can program them and make them move.
FATHER: So they learn a bit of coding?
SARAH: They do. They pick it up really quickly. We’re there to help if they need it, but they learn from one another too.
FATHER: Right. And do they have competition too?
SARAH: Yes, with the Junior Engineers, it’s to use recycled materials like card and wood to build a bridge (Q5), and the longest one gets a prize.
FATHER: That sounds fun. I wouldn’t mind doing that myself!
SARAH: Then they have something a bit different, which is to think up an idea for a five-minute movie (Q6) and then film it, using special animation software. You’d be amazed what they come up with.
FATHER: And of course, that’s something they can put on their phone and take home to show all their friends.
SARAH: Exactly. And then they also build a robot in the shape of a human, and they decorate (Q7) it and program it so that it can move its arms and legs.
FATHER: Perfect. So, is it the same price as the Tiny Engineers?
SARAH: It’s just a bit more: £50 for the five weeks.
FATHER: And are the classes on a Monday, too?
SARAH: They used to be, but we found it didn’t give our staff enough time to clear up after the first workshop, so we moved them to Wednesdays (Q8). The classes are held in the morning from ten to eleven.
FATHER: OK. That’s better for me actually. And what about the location? Where exactly are the workshops held?
SARAH: They’re in building 10A – there’s a big sign on the door, you can’t miss it, and that’s in Fradstone (Q9) Industrial Estate.
FATHER: Sorry?
SARAH: Fradstone – that’s F-R-A-D-S-T-O-N-E.
FATHER: And that’s in Grasford, isn’t it?
SARAH: Yes, up past the station.
FATHER: And will I have any parking (Q10) problems there?
SARAH: No, there’s always plenty available. So would you like to enrol Lydia and Carly now?
FATHER: OK.
SARAH: So can I have your full name …
SARAH: Xin chào. Hội thảo Kỹ thuật dành cho Trẻ em.
FATHER: À, xin chào. Tôi muốn hỏi một số thông tin về các hội thảo trong kỳ nghỉ học.
SARAH: Vâng.
FATHER: Tôi có hai con gái quan tâm. Bé nhỏ hơn tên Lydia, bé bốn tuổi — các bạn có nhận trẻ nhỏ như vậy không?
SARAH: Có, lớp Tiny Engineers của chúng tôi dành cho trẻ từ bốn đến năm tuổi.
FATHER: Các bé làm những hoạt động gì?
SARAH: Đủ loại. Chẳng hạn, các bé cùng nhau thiết kế một lớp vỏ đặc biệt bọc quanh một quả trứng (Q1), để khi quả trứng ở trong đó, các bé có thể thả từ trên cao xuống mà không bị vỡ. À, đôi khi nó vẫn vỡ, nhưng đó cũng là một phần của niềm vui!
FATHER: Vâng. Lydia rất thích xây dựng đồ vật. Bé có cơ hội làm việc đó không?
SARAH: Có chứ, các bé có một cuộc thi xem ai làm được tòa tháp (Q2) cao nhất. Anh sẽ ngạc nhiên về độ cao của chúng đấy.
FATHER: Vâng.
SARAH: Nhưng các bé luôn học hỏi trong lúc vui chơi. Ví dụ, một hoạt động là thiết kế và chế tạo một chiếc xe (Q3) gắn với bóng bay; lực không khí trong bóng thực sự cung cấp năng lượng cho xe và làm nó chạy đi. Xe chạy nhanh lắm.
FATHER: Được, mọi thứ nghe thật hoàn hảo.
FATHER: Còn Carly, đó là con gái lớn của tôi, bé vừa tròn bảy tuổi, vậy có lẽ bé sẽ ở một nhóm khác?
SARAH: Đúng, bé sẽ học Junior Engineers. Lớp đó dành cho trẻ từ sáu đến tám tuổi.
FATHER: Và các bé có làm những hoạt động tương tự không?
SARAH: Một số hoạt động giống nhau nhưng nâng cao hơn. Các bé tìm hiểu cách làm các mô hình phương tiện như ô tô và xe tải, đồng thời cách dựng con vật (Q4) bằng cùng loại vật liệu và kỹ thuật, rồi học cách lập trình để chúng chuyển động.
FATHER: Vậy là các bé học một chút lập trình?
SARAH: Đúng vậy. Các bé tiếp thu rất nhanh. Chúng tôi ở đó để hỗ trợ nếu cần, nhưng các bé cũng học từ nhau.
FATHER: Vâng. Các bé cũng có cuộc thi chứ?
SARAH: Có, với Junior Engineers, các bé dùng vật liệu tái chế như bìa cứng và gỗ để xây một cây cầu (Q5); cây dài nhất sẽ được giải.
FATHER: Nghe vui thật. Tôi cũng không ngại tự mình làm việc đó!
SARAH: Sau đó các bé có một việc hơi khác: nghĩ ra ý tưởng cho một bộ phim (Q6) dài năm phút, rồi quay phim bằng phần mềm hoạt họa đặc biệt. Anh sẽ ngạc nhiên với những gì các bé nghĩ ra đấy.
FATHER: Và dĩ nhiên các bé có thể lưu nó vào điện thoại, mang về khoe với bạn bè.
SARAH: Chính xác. Rồi các bé còn chế tạo rô-bốt hình người, trang trí (Q7) nó và lập trình để nó cử động tay chân.
FATHER: Hoàn hảo. Vậy giá có giống lớp Tiny Engineers không?
SARAH: Chỉ cao hơn một chút: 50 bảng Anh cho năm tuần.
FATHER: Và lớp cũng học vào thứ Hai à?
SARAH: Trước đây là vậy, nhưng chúng tôi thấy nhân viên không đủ thời gian dọn dẹp sau buổi hội thảo đầu tiên, nên đã chuyển sang thứ Tư (Q8). Lớp diễn ra buổi sáng từ mười đến mười một giờ.
FATHER: Được. Thực ra như vậy tiện cho tôi hơn. Còn địa điểm thì sao? Các hội thảo tổ chức chính xác ở đâu?
SARAH: Ở tòa nhà 10A — có biển lớn trên cửa, anh không thể không thấy — trong khu công nghiệp Fradstone (Q9).
FATHER: Xin lỗi?
SARAH: Fradstone — đánh vần là F-R-A-D-S-T-O-N-E.
FATHER: Và nó ở Grasford, đúng không?
SARAH: Đúng, đi qua ga tàu một đoạn.
FATHER: Tôi có gặp vấn đề về chỗ đỗ xe (Q10) ở đó không?
SARAH: Không, luôn có rất nhiều chỗ. Vậy anh có muốn đăng ký cho Lydia và Carly ngay bây giờ không?
FATHER: Được.
SARAH: Vậy tôi xin họ tên đầy đủ của anh…
Part 2
Good morning, everyone, and welcome to Stevenson’s, one of the country’s major manufacturers of metal goods. Thank you for choosing us for your two weeks of work experience. My name is Julia Simmons, and since the beginning of this year I’ve been the managing director.
Stevenson’s is quite an old company. Like me, the founder, Ronald Stevenson, went into the steel industry when he left school – that was in 1923. He set up this company when he finished his apprenticeship, in 1926 (Q11), although he actually started making plans two years earlier, in 1924. He was a very determined young man!
Stevenson’s long-term plan was to manufacture components for the machine tools industry – although in fact that never came about – and for the automotive industry, that is, cars and lorries. However, there was a delay of five years before that happened, because shortly before the company went into production, Stevenson was given the opportunity to make goods for hospitals and other players in the healthcare industry, so that’s what we did for the first five years (Q12).
Over the years, we’ve expanded the premises considerably – we were lucky that the site is big enough, so moving to a new location has never been necessary (Q13). However, the layout is far from ideal for modern machinery and production methods, so we intend to carry out major refurbishment of this site (Q13) over the next five years.
I’d better give you some idea of what you’ll be doing during your two weeks with us, so you know what to expect. Most mornings you’ll have a presentation from one of the managers (Q14), to learn about their department, starting this morning with research and development. And you’ll all spend some time in each department, observing what’s going on and talking to people – as long as you don’t stop them from doing their work altogether! In the past, a teacher from your school has come in at the end of each week to find out how the group were getting on, but your school isn’t able to arrange that this year.
OK, now I’ll briefly help you to orientate yourselves around the site. As you can see, we’re in the reception area, which we try to make attractive and welcoming to visitors. There’s a corridor running left from here, and if you go along that, the door facing you at the end is the entrance to the coffee room. This looks out onto the main road on one side, and some trees on the other (Q15), and that’ll be where you meet each morning.
The factory is the very big room on the far side of the site. Next to it is the warehouse, which can be accessed by lorries going up the road to the turning area at the end. You can get to the warehouse by crossing to the far side of the courtyard, and then the door is on your right (Q16).
Somewhere you’ll be keen to find is the staff canteen. This is right next to reception (Q17). I can confidently say that the food’s very good, but the view isn’t. The windows on one side look onto a corridor and courtyard, which aren’t very attractive at all, and on the other onto the access road, which isn’t much better.
You’ll be using the meeting room quite often, and you’ll find it by walking along the corridor to the left of the courtyard, and continuing along it to the end. The meeting room is the last one on the right (Q18), and I’m afraid there’s no natural daylight in the room.
Then you’ll need to know where some of the offices are. The human resources department is all the front of this building, so you head to the left along the corridor from reception, and it’s the second room you come to. It looks out onto the main road (Q19).
And finally, the boardroom (Q20), where you’ll be meeting sometimes. That has quite a pleasant view, as it looks out on to the trees. Go along the corridor past the courtyard, right to the end. The boardroom is on the left, next to the factory.
OK, now are there any questions before we …
Chào buổi sáng mọi người, và chào mừng đến với Stevenson’s, một trong những nhà sản xuất hàng kim loại lớn của đất nước. Cảm ơn các bạn đã chọn chúng tôi cho hai tuần thực tập trải nghiệm. Tôi là Julia Simmons và từ đầu năm nay, tôi là giám đốc điều hành.
Stevenson’s là một công ty khá lâu đời. Giống tôi, người sáng lập Ronald Stevenson đã vào ngành thép sau khi rời trường — đó là năm 1923. Ông thành lập công ty này khi kết thúc kỳ học việc, vào năm 1926 (Q11), mặc dù thực tế ông bắt đầu lên kế hoạch sớm hơn hai năm, vào năm 1924. Ông là một người trẻ rất quyết tâm!
Kế hoạch dài hạn của Stevenson’s là sản xuất linh kiện cho ngành máy công cụ — dù thực tế điều đó chưa từng diễn ra — và cho ngành ô tô, tức là ô tô con và xe tải. Tuy nhiên, phải chậm năm năm mới thực hiện được, vì ngay trước khi công ty đi vào sản xuất, Stevenson có cơ hội làm hàng hóa cho bệnh viện và các đơn vị khác trong ngành chăm sóc sức khỏe; vì vậy đó là việc chúng tôi làm trong năm năm đầu tiên (Q12).
Qua nhiều năm, chúng tôi đã mở rộng cơ sở đáng kể — may mắn là khu đất đủ lớn nên chưa bao giờ cần chuyển địa điểm (Q13). Tuy nhiên, bố cục còn xa mới lý tưởng cho máy móc hiện đại và phương pháp sản xuất hiện đại, nên trong năm năm tới chúng tôi dự định cải tạo lớn cơ sở này (Q13).
Tôi nên cho các bạn biết khái quát về việc các bạn sẽ làm trong hai tuần ở đây để biết điều gì đang chờ mình. Hầu hết các buổi sáng, các bạn sẽ nghe một bài thuyết trình từ một trong các quản lý (Q14) để tìm hiểu bộ phận của họ, bắt đầu sáng nay với bộ phận nghiên cứu và phát triển. Tất cả các bạn cũng sẽ dành thời gian ở từng bộ phận, quan sát công việc diễn ra và trò chuyện với mọi người — miễn là đừng khiến họ phải dừng hẳn công việc! Trước đây, cuối mỗi tuần giáo viên của trường các bạn sẽ đến tìm hiểu nhóm đang tiến triển thế nào, nhưng năm nay trường các bạn không thể sắp xếp điều đó.
Được rồi, giờ tôi sẽ giúp các bạn định hướng nhanh quanh khu cơ sở. Như các bạn thấy, chúng ta đang ở khu lễ tân; chúng tôi cố gắng làm nơi này hấp dẫn và thân thiện với khách. Có một hành lang chạy về bên trái từ đây; nếu đi theo đó, cánh cửa đối diện ở cuối hành lang là lối vào phòng cà phê. Một bên phòng nhìn ra đường chính, bên kia nhìn ra hàng cây (Q15); đó là nơi các bạn gặp nhau mỗi sáng.
Nhà xưởng là căn phòng rất lớn ở phía xa khu đất. Kế bên là nhà kho; xe tải có thể vào đó bằng con đường dẫn đến khu quay đầu ở cuối. Các bạn đến nhà kho bằng cách đi qua phía xa sân trong, sau đó cửa nằm bên phải (Q16).
Một nơi các bạn sẽ muốn tìm là căng tin nhân viên. Nó ngay cạnh khu lễ tân (Q17). Tôi có thể chắc chắn rằng đồ ăn rất ngon, nhưng cảnh nhìn ra thì không. Cửa sổ một bên nhìn ra hành lang và sân trong, vốn chẳng hấp dẫn chút nào; bên còn lại nhìn ra đường ra vào, cũng không khá hơn.
Các bạn sẽ dùng phòng họp khá thường xuyên. Hãy đi dọc hành lang bên trái sân trong và tiếp tục đến cuối. Phòng họp là căn cuối cùng bên phải (Q18); tiếc là trong phòng không có ánh sáng tự nhiên.
Sau đó các bạn cần biết vị trí một số văn phòng. Phòng nhân sự nằm toàn bộ ở phía trước tòa nhà này, vì vậy từ lễ tân hãy đi sang trái theo hành lang; đó là căn phòng thứ hai bạn gặp. Phòng nhìn ra đường chính (Q19).
Cuối cùng là phòng họp hội đồng (Q20), nơi đôi khi các bạn sẽ họp. Phòng có khung cảnh khá dễ chịu vì nhìn ra hàng cây. Đi dọc hành lang qua sân trong đến tận cuối. Phòng họp hội đồng nằm bên trái, cạnh nhà xưởng.
Được rồi, giờ có câu hỏi nào trước khi chúng ta…
Part 3
JESS: How are you getting on with your art project, Tom?
TOM: OK. Like, they gave us the theme of birds to base our project on, and I’m not really all that interested in wildlife. But I’m starting to get into it. I’ve pretty well finished the introductory stage.
JESS: So have I. When they gave us all those handouts with details of books and websites to look at (Q21/Q22), I was really put off, but the more I read, the more interested I got.
TOM: Me too. I found I could research so many different aspects of birds in art – colour, movement, texture. So I was looking forward to the Bird Park visit.
JESS: What a letdown! It poured with rain and we hardly saw a single bird. Much less use than the trip to the Natural History Museum (Q21/Q22).
TOM: Yeah, I liked all the stuff about evolution there. The workshop sessions with Dr Fletcher were good too, especially the brainstorming sessions.
JESS: I missed those because I was ill. I wish we could’ve seen the projects last year’s students did.
TOM: Mm. I suppose they want us to do our own thing, not copy.
JESS: Have you drafted your proposal yet?
TOM: Yes, but I haven’t handed it in. I need to amend some parts. I’ve realised the notes from my research are almost all just descriptions, I haven’t actually evaluated anything. So I’ll have to fix that (Q23/Q24).
JESS: Oh, I didn’t know we had to do that. I’ll have to look at that too. Did you do a timeline for the project?
TOM: Yes, and a mind map.
JESS: Yeah, so did I. I quite enjoyed that. But it was hard having to explain the basis for my decisions in my action plan.
TOM: What?
JESS: You know, give a rationale.
TOM: I didn’t realise we had to do that. OK, I can add it now. And I’ve done the video diary presentation, and worked out what I want my outcome to be in the project.
JESS: Someone told me it’s best not to be too precise about your actual outcome (Q23/Q24) at this stage, so you have more scope to explore your ideas later on. So I’m going to do back to my proposal to make it a bit more vague.
TOM: Really? OK, I’ll change that too then.
TOM: One part of the project, I’m unsure about is where we choose some paintings of birds and say what they mean to us. Like, I chose a painting of a falcon by Landseer. I like it because the bird’s standing there with his head turned to one side, but he seems to be staring straight at you. But I can’t just say it’s a bit scary, can I?
JESS: You could talk about the possible danger suggested by the bird’s look (Q25).
TOM: Oh, OK.
JESS: There’s a picture of a fish hawk by Audubon I like. It’s swooping over the water with a fish in its talons, and with great black wings which take up most of the picture.
TOM: So you could discuss it in relation to predators and food chains?
JESS: Well actually I think I’ll concentrate on the impression of rapid motion it gives. (Q26)
TOM: Right.
JESS: Do you know that picture of a kingfisher by van Gosh – it’s perching on a reed growing near a stream.
TOM: Yes, it’s got these beautiful blue and red and black shades.
JESS: Mm hm. I’ve actually chosen it because I saw a real kingfisher once when I was litter, I was out walking with my grandfather (Q27), and I’ve never forgotten it.
TOM: So we can use a personal link?
JESS: Sure.
TOM: OK. There’s a portrait called William Wells. I can’t remember the artist but it’s a middle-aged man who’s just shot a bird. And his expression, and the way he’s holding the bird in his hand suggests he’s not sure about what he’s done. To me it’s about how ambiguous people are in the way they exploit the natural world. (Q28)
JESS: Interesting. There’s Gauguin’s picture Vairumati. He did it in Tahiti. It’s a woman with a white bird behind her that is eating a lizard, and what I’m interested in is what idea this bird refers to. Apparently, it’s a reference to the never-ending cycle of existence. (Q29)
TOM: Wow. I chose a portrait of a little boy, Giovanni de Medici. He’s holding a tiny bird in one fist (Q30). I like the way he’s holding it carefully so he doesn’t hurt it.
JESS: Ah right.
JESS: Dự án nghệ thuật của cậu tiến triển thế nào rồi, Tom?
TOM: Ổn. Họ cho chúng ta chủ đề về chim để làm cơ sở cho dự án, mà tớ vốn không hẳn quan tâm đến động vật hoang dã. Nhưng tớ đang bắt đầu hứng thú. Tớ gần như hoàn thành giai đoạn nhập môn rồi.
JESS: Tớ cũng vậy. Khi họ đưa tất cả tài liệu phát tay có thông tin về sách và trang web để xem (Q21/Q22), tớ thật sự nản, nhưng càng đọc tớ càng thấy hứng thú.
TOM: Tớ cũng thế. Tớ thấy có thể nghiên cứu rất nhiều khía cạnh khác nhau của chim trong nghệ thuật — màu sắc, chuyển động, kết cấu. Vì vậy tớ rất mong chờ chuyến thăm Công viên Chim.
JESS: Thất vọng thật! Mưa như trút và chúng ta gần như chẳng thấy một con chim nào. Kém hữu ích hơn nhiều so với chuyến đi Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên (Q21/Q22).
TOM: Ừ, tớ thích toàn bộ phần về tiến hóa ở đó. Các buổi hội thảo với Tiến sĩ Fletcher cũng hay, đặc biệt là các buổi động não.
JESS: Tớ lỡ các buổi đó vì bị ốm. Giá mà chúng ta được xem dự án của học viên năm trước.
TOM: Ừm. Tớ nghĩ họ muốn chúng ta tự làm, không sao chép.
JESS: Cậu đã soạn đề xuất chưa?
TOM: Rồi, nhưng tớ chưa nộp. Tớ cần sửa vài phần. Tớ nhận ra ghi chú nghiên cứu hầu như chỉ là mô tả, tớ chưa thực sự đánh giá điều gì. Vậy nên tớ phải sửa việc đó (Q23/Q24).
JESS: Ôi, tớ không biết chúng ta phải làm vậy. Tớ cũng phải xem lại. Cậu có lập tiến trình thời gian cho dự án không?
TOM: Có, và cả sơ đồ tư duy.
JESS: Ừ, tớ cũng có. Tớ khá thích làm việc đó. Nhưng thật khó khi phải giải thích cơ sở cho các quyết định trong kế hoạch hành động.
TOM: Gì cơ?
JESS: Cậu biết đấy, nêu lý do cơ sở.
TOM: Tớ không nhận ra mình phải làm thế. Được rồi, giờ tớ có thể bổ sung. Tớ đã làm bài trình bày nhật ký video và xác định kết quả mình muốn có trong dự án.
JESS: Có người bảo tớ tốt nhất đừng quá cụ thể về kết quả thực tế (Q23/Q24) ở giai đoạn này để sau này có nhiều không gian khám phá ý tưởng hơn. Vậy nên tớ sẽ quay lại đề xuất và làm nó mơ hồ hơn một chút.
TOM: Thật à? Được, vậy tớ cũng sẽ đổi.
TOM: Có một phần dự án tớ không chắc: chúng ta chọn vài tranh về chim và nói chúng có ý nghĩa gì với mình. Ví dụ, tớ chọn tranh chim cắt của Landseer. Tớ thích vì con chim đứng đó, đầu quay sang một bên nhưng dường như nhìn chằm chằm thẳng vào cậu. Nhưng tớ không thể chỉ nói nó hơi đáng sợ, đúng không?
JESS: Cậu có thể nói về mối nguy hiểm có thể được gợi ra bởi ánh nhìn của con chim (Q25).
TOM: À, được.
JESS: Có bức tranh chim ó bắt cá của Audubon mà tớ thích. Nó đang sà xuống mặt nước, một con cá trong móng vuốt, với đôi cánh đen lớn chiếm phần lớn bức tranh.
TOM: Vậy cậu có thể bàn về nó liên quan đến thú săn mồi và chuỗi thức ăn?
JESS: Thực ra tớ nghĩ tớ sẽ tập trung vào ấn tượng về chuyển động nhanh mà nó tạo ra (Q26).
TOM: Vâng.
JESS: Cậu biết bức chim bói cá của van Gosh không — nó đậu trên cây sậy mọc gần một dòng suối.
TOM: Có, nó có những sắc xanh dương, đỏ và đen rất đẹp.
JESS: Ừ. Tớ chọn nó vì một lần tớ thấy chim bói cá thật khi còn nhỏ, lúc đi bộ với ông mình (Q27), và tớ chưa bao giờ quên.
TOM: Vậy chúng ta có thể dùng liên hệ cá nhân?
JESS: Chắc chắn.
TOM: Được. Có một chân dung tên William Wells. Tớ không nhớ họa sĩ, nhưng đó là một người đàn ông trung niên vừa bắn một con chim. Nét mặt ông ấy và cách ông cầm con chim cho thấy ông không chắc về điều mình vừa làm. Với tớ, nó nói về sự mơ hồ của con người trong cách họ khai thác thế giới tự nhiên (Q28).
JESS: Thú vị. Có bức Vairumati của Gauguin. Ông vẽ nó ở Tahiti. Trong tranh là một phụ nữ, phía sau có chim trắng đang ăn thằn lằn; điều tớ quan tâm là con chim này nhắc đến ý niệm gì. Rõ ràng nó ám chỉ vòng tuần hoàn tồn tại không bao giờ kết thúc (Q29).
TOM: Wow. Tớ chọn chân dung một bé trai, Giovanni de Medici. Cậu bé nắm một con chim bé xíu trong một nắm tay (Q30). Tớ thích cách cậu ấy cầm cẩn thận để không làm nó đau.
JESS: À, đúng.
Part 4
Ancient philosophy is not just about talking or lecturing, or even reading long, dense books. In fact, it is something people have used throughout history – to solve their problems and to achieve their greatest triumphs.
Specifically, I am referring to Stoicism, which, in my opinion, is the most practical of all philosophies (Q31) and therefore the most appealing. Stoicism was founded in Ancient Greece by Zeno of Citium in the early 3rd century BC, but was practised by the likes of Epictetus, Cato.
Seneca and Marcus Aurelius. Amazingly, we still have access to these ideas, despite the fact that the most famous Stoics never wrote anything down for publication (Q32). Cato definitely didn’t. Marcus Aurelius never intended his Meditations to be anything but personal. Seneca’s letters were, well, letters and Epictetus’ thoughts come to us by way of a note-taking student.
Stoic principles were based on the idea that its followers could have an unshakable happiness in this life and the key to achieving this was virtue. The road to virtue, in turn, lay in understanding that destructive emotions, like anger and jealousy, are under our conscious control – they don’t have to control us, because we can learn to control them. In the words of Epictetus: “external events I cannot control, but the choices I make with regard to them, I do control”. (Q33)
The modern day philosopher and writer Nassim Nicholas Taleb defines a Stoic as someone who has a different perspective on experience which most of us would see as wholly negative (Q34); a Stoic “transforms fear into caution, pain into transformation, mistakes into initiation and desire into undertaking”. Using this definition as a model, we can see that throughout the centuries Stoicism has been practised in more recent history by kings, presidents, artists, writers and entrepreneurs.
The founding fathers of the United States were inspired by the philosophy. George Washington was introduced to Stoicism by his neighbours at age seventeen, and later, put on a play based on the life of Cato to inspire his men (Q35). Thomas Jefferson kept a copy of Seneca beside his bed.
Writers and artists have also been inspired by the stoics. Eugène Delacroix, the renowned French Romantic artist (known best for his painting Liberty Leading the People) was an ardent Stoic, referring to it as his “consoling religion”.
The economist Adam Smith’s theories on capitalism were significantly influenced by the Stoicism (Q36) that he studied as a schoolboy, under a teacher who had translated Marcus Aurelius’ works.
Today’s political leaders are no different, with many finding their inspiration from the ancient texts. Former US president Bill Clinton rereads Marcus Aurelius every single year, and many have compared former President Obama’s calm leadership style to that of Cato. Wen Jiabao, the former prime minister of China, claims that Meditations is one of two books he travels with and that he has read it more than one hundred times over the course of his life.
Stoicism had a profound influence on Albert Ellis, who invented Cognitive Behaviour Therapy (Q37), which is used to help people manage their problems by changing the way that they think and behave. It’s most commonly used to treat depression. The idea is that we can take control of our lives by challenging the irrational belief that create our faulty thinking, symptoms and behaviours by using logic instead. (Q38)
Stoicism has also become popular in the world of business. Stoic principles can build the resilience and state of mind required to overcome setbacks because Stoics teach turning obstacles into opportunity (Q39). A lesson every business entrepreneur needs to learn.
I would argue that study Stoicism is as relevant today as it was 2,000 years ago, thanks to its brilliant insights into how to lead a good life (Q40). At the very root of the thinking, there is a very simple way of living – control what you can and accept what you can’t. This is not as easy as it sounds and will require considerable practice – it can take a lifetime to master. The Stoics also believed the most important foundation for a good and happy life is not money, fame, power or pleasure, but having a disciplined and principled character – something which seems to resonate with many people today.
Triết học cổ đại không chỉ là nói chuyện hay thuyết giảng, thậm chí không chỉ là đọc những cuốn sách dài, khó. Thực tế, đó là điều con người đã dùng trong suốt lịch sử để giải quyết vấn đề và đạt được những chiến thắng lớn nhất.
Cụ thể, tôi đang nói tới Chủ nghĩa Khắc kỷ, theo tôi, là thực tiễn nhất trong mọi trường phái triết học (Q31) và vì thế hấp dẫn nhất. Chủ nghĩa Khắc kỷ được Zeno xứ Citium sáng lập ở Hy Lạp cổ đại vào đầu thế kỷ 3 trước Công nguyên, rồi được những người như Epictetus, Cato, Seneca và Marcus Aurelius thực hành.
Điều đáng kinh ngạc là ta vẫn tiếp cận được những ý tưởng này, mặc dù những người Khắc kỷ nổi tiếng nhất chưa bao giờ viết điều gì để xuất bản (Q32). Cato chắc chắn không viết. Marcus Aurelius chưa từng định để tác phẩm Meditations của mình là gì ngoài ghi chép cá nhân. Các lá thư của Seneca thì đơn giản là thư, còn tư tưởng của Epictetus đến với ta qua một học trò ghi chép.
Nguyên tắc Khắc kỷ dựa trên ý tưởng rằng người theo có thể có hạnh phúc không gì lay chuyển trong đời này, và chìa khóa để đạt được là đức hạnh. Con đường tới đức hạnh nằm ở sự hiểu rằng cảm xúc phá hoại như giận dữ và ghen tị nằm dưới sự kiểm soát có ý thức của ta — chúng không nhất thiết kiểm soát ta, bởi ta có thể học cách kiểm soát chúng. Theo lời Epictetus: “Những sự kiện bên ngoài tôi không kiểm soát được, nhưng những lựa chọn tôi đưa ra liên quan tới chúng thì tôi kiểm soát được.” (Q33)
Triết gia kiêm nhà văn hiện đại Nassim Nicholas Taleb định nghĩa người Khắc kỷ là người có góc nhìn khác về trải nghiệm mà đa số chúng ta sẽ xem là hoàn toàn tiêu cực (Q34); một người Khắc kỷ “biến nỗi sợ thành sự thận trọng, đau đớn thành chuyển hóa, sai lầm thành sự khai mở và ham muốn thành sự dấn thân”. Dựa vào định nghĩa này, ta thấy qua nhiều thế kỷ Chủ nghĩa Khắc kỷ đã được thực hành trong lịch sử gần đây bởi các vị vua, tổng thống, nghệ sĩ, nhà văn và doanh nhân.
Các vị cha lập quốc Hoa Kỳ chịu ảnh hưởng từ triết học này. George Washington được hàng xóm giới thiệu về Chủ nghĩa Khắc kỷ khi mười bảy tuổi; sau đó ông dựng một vở kịch (Q35) dựa trên cuộc đời Cato để truyền cảm hứng cho quân lính. Thomas Jefferson để một bản sách của Seneca bên cạnh giường.
Nhà văn và nghệ sĩ cũng lấy cảm hứng từ người Khắc kỷ. Eugène Delacroix, họa sĩ Lãng mạn Pháp nổi tiếng, được biết nhiều nhất với tranh Liberty Leading the People, là người Khắc kỷ nhiệt thành và gọi nó là “tôn giáo an ủi” của mình.
Các lý thuyết về chủ nghĩa tư bản (Q36) của nhà kinh tế Adam Smith chịu ảnh hưởng đáng kể từ Chủ nghĩa Khắc kỷ mà ông học khi còn đi học, dưới sự hướng dẫn của một giáo viên đã dịch các tác phẩm của Marcus Aurelius.
Các lãnh đạo chính trị ngày nay cũng vậy; nhiều người tìm cảm hứng từ các văn bản cổ. Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton đọc lại Marcus Aurelius mỗi năm, và nhiều người so sánh phong cách lãnh đạo điềm tĩnh của cựu Tổng thống Obama với Cato. Wen Jiabao, cựu thủ tướng Trung Quốc, nói rằng Meditations là một trong hai cuốn sách ông mang theo khi đi công tác và ông đã đọc nó hơn một trăm lần trong đời.
Chủ nghĩa Khắc kỷ ảnh hưởng sâu sắc đến Albert Ellis, người phát minh liệu pháp hành vi nhận thức (Q37), được dùng để giúp mọi người quản lý vấn đề bằng cách thay đổi cách họ suy nghĩ và hành xử. Nó thường được dùng nhất để điều trị trầm cảm. Ý tưởng là ta có thể kiểm soát cuộc đời bằng cách dùng logic (Q38) để thách thức những niềm tin phi lý tạo ra tư duy, triệu chứng và hành vi sai lệch.
Chủ nghĩa Khắc kỷ cũng phổ biến trong giới kinh doanh. Các nguyên tắc Khắc kỷ có thể xây dựng sức bền và trạng thái tinh thần cần thiết để vượt qua thất bại, vì người Khắc kỷ dạy cách biến trở ngại thành cơ hội (Q39). Đây là bài học mọi doanh nhân cần học.
Tôi cho rằng học Chủ nghĩa Khắc kỷ ngày nay vẫn phù hợp như 2.000 năm trước, nhờ những hiểu biết xuất sắc về cách sống một cuộc đời tốt đẹp (Q40). Cốt lõi của tư tưởng này là một cách sống rất đơn giản: kiểm soát điều bạn có thể và chấp nhận điều bạn không thể. Điều này không dễ như nghe có vẻ vậy và đòi hỏi sự thực hành đáng kể — có thể mất cả đời để làm chủ. Người Khắc kỷ cũng tin nền tảng quan trọng nhất của một cuộc đời tốt đẹp, hạnh phúc không phải tiền bạc, danh tiếng, quyền lực hay khoái lạc, mà là một nhân cách có kỷ luật và nguyên tắc — điều dường như vẫn tạo tiếng vang với nhiều người ngày nay.



