Cambridge IELTS 13
Listening Test 2
Audio, transcript tiếng Anh nguyên bản và bản dịch tiếng Việt.
South City Cycling Club
Câu lạc bộ Đạp xe South City
JIM: Hello, South City Cycling Club.
WOMAN: Oh, hi. Er … I want to find out about joining the club.
JIM: Right. I can help you there. I’m the club secretary and my name’s Jim Hunter (Example).
WOMAN: Oh, hi Jim.
JIM: So, are you interested in membership for yourself?
WOMAN: That’s right.
JIM: OK. Well there are basically two types of adult membership. If you’re pretty serious about cycling, there’s the Full membership. That costs 260 dollars and that covers you not just for ordinary cycling but also for races both here in the city and also in other parts of Australia. (Q1)
WOMAN: Right. Well, I’m not really up to that standard. I was more interested in just joining a group to do some cycling in my free time.
JIM: Sure. That’s why most people join. So, in that case you’d be better with the Recreational membership. That’s 108 dollars if you’re over 19, and 95 dollars if you’re under.
WOMAN: I’m 25.
JIM: OK. It’s paid quarterly, and you can upgrade it later to the Full membership if you want to, of course. Now both types of membership include the club fee of 20 dollars. They also provide insurance in case you have an accident (Q2), though we hope you won’t need that, of course.
WOMAN: No. OK, well, I’ll go with the Recreational membership, I think. And that allows me to join in the club activities, and so on?
JIM: That’s right. And once you’re a member of the club, you’re also permitted to wear our kit when you’re out cycling. It’s green and white.
WOMAN: Yes, I’ve seen cyclists wearing it. So, can I buy that at the club?
JIM: No, it’s made to order by a company in Brisbane. You can find them online: they’re called Jerriz (Q3). That’s J-E-R-R-I-Z. You can use your membership number to put in an order on their website.
WOMAN: OK. Now, can you tell me a bit about the rides I can do?
JIM: Sure. So we have training rides pretty well every morning, and they’re a really good way of improving your cycling skills as well as your general level of fitness, but they’re different levels. Level A is pretty fast – you’re looking at about 30 or 35 kilometres an hour. If you can do about 25 kilometres an hour, you’d probably be level B (Q4), and then level C are the novices, who stay at about 15 kilometres per hour.
WOMAN: Right. Well I reckon I’d be level B. So, when are the sessions for that level?
JIM: There are a couple each week. They’re both early morning sessions. There’s one on Tuesdays, and for that one you meet at 5.30 am, and the meeting point’s the stadium (Q5) – do you know where that is?
WOMAN: Yes, it’s quite near my home, in fact. OK, and how about the other one?
JIM: That’s on Thursdays. It starts at the same time, but they meet at the main gate to the park. (Q6)
WOMAN: Is that the one just past the shopping mall?
JIM: That’s it.
————————–
WOMAN: So how long are the rides?
JIM: They’re about an hour and a half. So, if you have a job it’s easy to fit in before you go to work. And the members often go somewhere for coffee afterwards (Q7), so it’s quite a social event.
WOMAN: OK. That sounds good. I’ve only just moved to the city so I don’t actually know many people yet.
JIM: Well, it’s a great way to meet people.
WOMAN: And does each ride have a leader? (Q8)
JIM: Sometimes, but not always. But you don’t really need one; the group members on the ride support one another, anyway.
WOMAN: How would we know where to go?
JIM: If you check the club website, you’ll see that the route for each ride is clearly marked. So you can just print that out (Q9) and take it along with you. It’s similar from one week to another, but it’s not always exactly the same.
WOMAN: And what do I need to bring?
JIM: Well, bring a bottle of water, and your phone. You shouldn’t use if while you’re cycling, buy have it with you.
WOMAN: Right.
JIM: And in winter, it’s well before sunrise when we set out, so you need to make sure your bike’s got lights. (Q10)
WOMAN: That’s OK. Well, thanks Jim. I’d definitely like to join. So what’s the best way of going about it?
JIM: You can …
JIM: Xin chào, Câu lạc bộ Đạp xe South City xin nghe.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Chào anh. Tôi muốn tìm hiểu về việc gia nhập câu lạc bộ.
JIM: Vâng, tôi có thể giúp chị. Tôi là thư ký câu lạc bộ, tên tôi là Jim Hunter (Ví dụ).
NGƯỜI PHỤ NỮ: Chào Jim.
JIM: Chị muốn đăng ký hội viên cho chính mình phải không?
NGƯỜI PHỤ NỮ: Đúng vậy.
JIM: Về cơ bản có hai loại hội viên người lớn. Nếu chị khá nghiêm túc với môn đạp xe thì có gói Hội viên Toàn phần. Phí là 260 đô la và gói này không chỉ áp dụng cho việc đạp xe thông thường mà còn bao gồm các cuộc đua ở thành phố này cũng như tại những nơi khác ở Úc. (Q1)
NGƯỜI PHỤ NỮ: Tôi chưa đạt đến trình độ đó. Tôi chỉ muốn tham gia một nhóm để đạp xe lúc rảnh.
JIM: Đó cũng là lý do phần lớn mọi người tham gia. Trường hợp của chị phù hợp hơn với gói Hội viên Giải trí. Phí là 108 đô la nếu trên 19 tuổi và 95 đô la nếu dưới 19 tuổi.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Tôi 25 tuổi.
JIM: Phí được đóng theo quý và sau này chị có thể nâng cấp lên gói Toàn phần. Cả hai loại hội viên đều bao gồm 20 đô la phí câu lạc bộ. Hai gói cũng cung cấp bảo hiểm trong trường hợp chị gặp tai nạn. (Q2)
NGƯỜI PHỤ NỮ: Tôi sẽ chọn gói Giải trí. Gói đó cho phép tôi tham gia các hoạt động của câu lạc bộ phải không?
JIM: Đúng vậy. Khi đã là hội viên, chị cũng được phép mặc bộ trang phục xanh lá và trắng của câu lạc bộ khi đạp xe.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Tôi đã thấy người ta mặc bộ đó. Tôi có thể mua ở câu lạc bộ không?
JIM: Không, trang phục được một công ty ở Brisbane may theo đơn đặt hàng. Chị có thể tìm họ trên mạng; công ty tên là Jerriz, đánh vần J-E-R-R-I-Z. (Q3) Chị dùng số hội viên để đặt hàng trên trang web.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Anh có thể cho tôi biết về những chuyến đạp xe mà tôi có thể tham gia không?
JIM: Hầu như sáng nào chúng tôi cũng có buổi đạp xe luyện tập. Đây là cách rất tốt để cải thiện kỹ năng đạp xe và thể lực nói chung, nhưng có nhiều cấp độ. Cấp A khá nhanh, khoảng 30–35 km/giờ. Nếu chị đi được khoảng 25 km/giờ thì có lẽ chị thuộc cấp B (Q4); cấp C dành cho người mới, tốc độ khoảng 15 km/giờ.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Tôi nghĩ mình thuộc cấp B. Các buổi của cấp đó diễn ra khi nào?
JIM: Mỗi tuần có hai buổi, đều vào sáng sớm. Một buổi vào thứ Ba; mọi người gặp nhau lúc 5 giờ 30 sáng tại sân vận động. (Q5)
NGƯỜI PHỤ NỮ: Tôi biết chỗ đó, khá gần nhà tôi. Còn buổi kia?
JIM: Vào thứ Năm. Buổi đó bắt đầu cùng giờ nhưng mọi người gặp nhau tại cổng chính của công viên. (Q6)
NGƯỜI PHỤ NỮ: Có phải cổng nằm ngay sau trung tâm mua sắm không?
JIM: Đúng rồi.
————————–
NGƯỜI PHỤ NỮ: Mỗi chuyến kéo dài bao lâu?
JIM: Khoảng một tiếng rưỡi, nên người đi làm vẫn dễ sắp xếp trước giờ làm. Sau đó, các hội viên thường đi đâu đó uống cà phê (Q7), vì vậy đây cũng là một hoạt động giao lưu.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Nghe hay đấy. Tôi mới chuyển đến thành phố nên chưa quen nhiều người.
JIM: Đây là cách tuyệt vời để gặp gỡ mọi người.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Mỗi chuyến đi có người dẫn đoàn không? (Q8)
JIM: Đôi khi có, nhưng không phải lúc nào cũng có. Thực ra không nhất thiết phải có vì các thành viên trong nhóm hỗ trợ lẫn nhau.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Làm sao chúng tôi biết phải đi đâu?
JIM: Trên trang web câu lạc bộ, lộ trình của từng chuyến được đánh dấu rõ ràng. Chị chỉ cần in ra (Q9) và mang theo. Lộ trình các tuần khá giống nhau nhưng không phải lúc nào cũng hoàn toàn như nhau.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Tôi cần mang theo gì?
JIM: Hãy mang một chai nước và điện thoại. Không nên dùng điện thoại khi đang đạp xe, nhưng hãy mang theo bên mình.
NGƯỜI PHỤ NỮ: Được.
JIM: Vào mùa đông, lúc xuất phát trời còn lâu mới sáng, nên chị phải bảo đảm xe đạp có đèn. (Q10)
NGƯỜI PHỤ NỮ: Không vấn đề gì. Cảm ơn Jim. Tôi chắc chắn muốn tham gia. Cách đăng ký tốt nhất là gì?
JIM: Chị có thể…
Employee volunteering projects
Các dự án tình nguyện của nhân viên
Thanks for coming everyone. OK, so this meeting is for new staff and staff who haven’t been involved with our volunteering projects yet. So basically, the idea is that we allow staff to give up some of their work time to help on various charity projects to benefit the local community. We’ve been doing this for the last five years and it’s been very successful.
Participating doesn’t necessarily involve a huge time commitment. The company will pay for eight hours of your time. That can be used over one or two days all at once, or spread over several months throughout the year (Q11). There are some staff who enjoy volunteering so much they also give up their own free time for a couple of hours every week. It’s completely up to you. Obviously, many people will have family commitments and aren’t as available as other members of staff.
Feedback from staff has been overwhelmingly positive. Because they felt they were doing something really useful, nearly everyone agreed that volunteering made them feel more motivated at work (Q12). They also liked building relationships with the people in the local community and felt valued by them. One or two people also said it was a good thing to have on their CVs.
One particularly successful project last year was the Get Working Project. This was aimed at helping unemployed people in the area get back to work. Our staff were able to help them improve their telephone skills, such as writing down messages and speaking with confidence to potential customers, which they had found quite difficult (Q13). This is something many employers look for in job applicants – and something we all do without even thinking about, every day at work.
We’ve got an exciting new project starting this year. Up until now, we’re mainly focused on projects to do with education and training. And we’ll continue with out reading project in schools and our work with local charities. But we’re also agreed to help out on a conservation project in Redfern Park (Q14). So if any of you fancy being outside and getting your hands dirty, this is the project for you.
I also want to mention the annual Digital Inclusion Day, which is coming up next month. The aim of this is to help older people keep up with technology. And this year, instead of hosting the event in our own training facility, we’re using the ICT suite at Hill College (Q15), as it can hold far more people.
We’ve invited over 60 people from the Silver Age Community Centre to take part, so we’ll need a lot of volunteers to help with this event.
If you’re interested in taking part, please go to the volunteering section of our website and complete the relevant form (Q16). We won’t be providing any training for this but you’ll be paired with an experienced volunteer if you’ve never done it before. By the way, don’t forget to tell your manager about any volunteering activities you decide to do.
——————
The participants on the Digital Inclusion Day really benefited. The majority were in their seventies, though some where younger and a few were even in their nineties! Quite a few owned both a computer and a mobile phone, but these tended to be outdated model (Q17). They generally knew how to do simple things, like send texts, but weren’t aware of recent developments in mobile phone technology. A few were keen to learn but most were quite dismissive at first – they couldn’t see the point of updating their skills (Q18). But that soon changed.
The feedback was very positive. The really encouraging thing was that participants all said they felt much more confident about using social media to keep in touch with their grandchildren (Q19), who prefer this form of communication to phoning or sending emails. A lot of them also said playing online games would help them make new friends and keep their brains active (Q20). They weren’t that impressed with being able to order their groceries online, as they liked going out to the shops, but some said it would come in handy if they were ill or the weather was really bad. One thing they asked about was using tablets for things like reading newspapers – some people had been given tablets as presents but had never used them, so that’s something we’ll make sure we include this time …
Cảm ơn mọi người đã đến. Buổi họp này dành cho nhân viên mới và những người chưa tham gia các dự án tình nguyện của chúng ta. Về cơ bản, công ty cho phép nhân viên dành một phần thời gian làm việc để hỗ trợ các dự án từ thiện khác nhau, đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Chúng ta đã thực hiện việc này trong năm năm qua và rất thành công.
Việc tham gia không nhất thiết đòi hỏi quá nhiều thời gian. Công ty sẽ trả lương cho tám giờ làm việc của bạn. Bạn có thể dùng toàn bộ thời gian đó trong một hoặc hai ngày, hoặc chia ra trong vài tháng của năm. (Q11) Một số nhân viên yêu thích công việc tình nguyện đến mức còn dành vài giờ rảnh mỗi tuần. Việc này hoàn toàn tùy bạn; nhiều người có trách nhiệm gia đình nên không rảnh bằng những nhân viên khác.
Phản hồi của nhân viên nhìn chung vô cùng tích cực. Vì cảm thấy mình đang làm một việc thực sự hữu ích, gần như tất cả đều đồng ý rằng hoạt động tình nguyện khiến họ có thêm động lực làm việc. (Q12) Họ cũng thích xây dựng quan hệ với người dân địa phương và cảm thấy được cộng đồng coi trọng. Một vài người còn nói đây là điểm tốt để ghi vào CV.
Một dự án đặc biệt thành công năm ngoái là Get Working, nhằm giúp người thất nghiệp trong khu vực quay lại làm việc. Nhân viên của chúng ta đã giúp họ cải thiện kỹ năng giao tiếp qua điện thoại, chẳng hạn ghi lại lời nhắn và tự tin trò chuyện với khách hàng tiềm năng — những việc trước đây họ thấy khá khó. (Q13) Đây là kỹ năng nhiều nhà tuyển dụng tìm kiếm ở ứng viên và là việc chúng ta làm hằng ngày mà gần như không cần suy nghĩ.
Năm nay chúng ta có một dự án mới rất thú vị. Trước đây, chúng ta chủ yếu tập trung vào giáo dục và đào tạo. Chúng ta sẽ tiếp tục dự án đọc sách tại trường học và công việc với các tổ chức từ thiện địa phương, đồng thời đã đồng ý hỗ trợ một dự án bảo tồn tại Công viên Redfern. (Q14) Nếu bạn thích ở ngoài trời và không ngại lấm bẩn tay thì đây là dự án dành cho bạn.
Tôi cũng muốn nhắc tới Ngày Hòa nhập Kỹ thuật số thường niên diễn ra vào tháng tới, nhằm giúp người cao tuổi theo kịp công nghệ. Năm nay, thay vì tổ chức tại cơ sở đào tạo của công ty, chúng ta sẽ sử dụng phòng công nghệ thông tin của Hill College (Q15) vì nơi đó chứa được nhiều người hơn.
Chúng ta đã mời hơn 60 người từ Trung tâm Cộng đồng Silver Age tham gia, nên sẽ cần rất nhiều tình nguyện viên.
Nếu muốn tham gia, hãy vào mục tình nguyện trên trang web của chúng ta và điền biểu mẫu phù hợp. (Q16) Sẽ không có khóa đào tạo riêng, nhưng người chưa từng tham gia sẽ được ghép cặp với một tình nguyện viên có kinh nghiệm. Đừng quên báo cho quản lý về bất kỳ hoạt động tình nguyện nào bạn quyết định thực hiện.
——————
Những người tham gia Ngày Hòa nhập Kỹ thuật số đã nhận được nhiều lợi ích. Phần lớn ở độ tuổi 70, một số trẻ hơn và vài người thậm chí ngoài 90. Khá nhiều người có cả máy tính lẫn điện thoại di động, nhưng thiết bị thường là mẫu đã lỗi thời. (Q17) Họ thường biết làm những việc đơn giản như nhắn tin nhưng không biết các phát triển gần đây của công nghệ điện thoại. Một số ít rất muốn học, nhưng ban đầu đa số khá thờ ơ vì không thấy lý do phải cập nhật kỹ năng. (Q18) Tuy nhiên, điều đó nhanh chóng thay đổi.
Phản hồi rất tích cực. Điều đáng khích lệ nhất là tất cả người tham gia đều nói họ tự tin hơn nhiều khi dùng mạng xã hội để giữ liên lạc với các cháu (Q19), vì các cháu thích cách giao tiếp này hơn gọi điện hay gửi email. Nhiều người còn cho rằng chơi trò chơi trực tuyến sẽ giúp họ kết bạn mới và giữ cho não bộ hoạt động. (Q20) Họ không quá ấn tượng với việc đặt hàng tạp hóa trực tuyến vì thích ra cửa hàng, nhưng một số cho rằng nó hữu ích khi bị ốm hoặc thời tiết rất xấu. Họ cũng hỏi về việc dùng máy tính bảng để đọc báo; một số người được tặng máy tính bảng nhưng chưa từng sử dụng, nên lần này chúng ta chắc chắn sẽ đưa nội dung đó vào…
Nanotechnology presentation
Bài thuyết trình về công nghệ nano
TUTOR: Ah … come in, Russ.
RUSS: Thank you.
TUTOR: Now you wanted to consult me about your class presentation on nanotechnology – you’re due to give it in next week, aren’t you?
RUSS: That’s right. And I’m really struggling. I chose the topic because I didn’t know much about it and wanted to learn more, but now I’ve read so much about it, in a way there’s too much to say – I could talk for much longer than the twenty minutes I’ve been allocated. Should I assume the other students don’t know much, and give them a kind of general introduction, or should I try and make them share my fascination with a particular aspect? (Q21)
TUTOR: You could do either, but you’ll need to have it clear in your own mind.
RUSS: Then I think I’ll give an overview.
TUTOR: OK. Now, one way of approaching this is to work through developments in chronological order.
RUSS: Uh-huh.
TUTOR: On the other hand, you could talk about the numerous ways that nanotechnology is being applied.
RUSS: You mean things like thin films on camera displays to make them water-repellent, and additives to make motorcycle helmets stronger and lighter.
TUTOR: Exactly. Or another way would be to focus on its impact in one particular area (Q22), say medicine, or space exploration.
RUSS: That would make it easier to focus. Perhaps I should do that.
TUTOR: I think that would be a good idea.
RUSS: Right. How important is it to include slides in the presentation?
TUTOR: They aren’t essential, by any means. And there’s a danger of tailoring what you say to fit whatever slides you can find. While it can be good to includes slides, you could end up spending too long looking for suitable ones. You might find it better to leave them out. (Q23)
RUSS: I see. Another thing I was wondering about was how to start. I know presentations often begin with ‘First I’m going to talk about this, and then I’ll talk about that’, but I thought about asking the audience what they know about nanotechnology.
TUTOR: That would be fine if you had an hour or two for the presentation, but you might find that you can’t do anything with the answers you get, and it simply eats into the short time that’s available.
RUSS: So, maybe I should mention a particular way that nanotechnology is used, to focus people’s attention. (Q24)
TUTOR: That sounds sensible.
RUSS: What do you think I should do next? I really have to plan the presentation today and tomorrow.
TUTOR: Well, initially I think you should ignore all the notes you’ve made, take a small piece of paper, and write a single short sentence that ties together the whole presentation (Q25): it can be something as simple as ‘Nanotechnology is already improving our lives’. Then start planning the content around that. You can always modify that sentence later, if you need to.
RUSS: OK.
————————————
TUTOR: OK, now let’s think about actually giving the presentation. You’ve only given one before, if I remember correctly, about an experiment you’d been involved in.
RUSS: That’s right. It was pretty rubbish!
TUTOR: Let’s say it was better in some respects than in others. With regard to the structure. I felt that you ended rather abruptly, without rounding it off (Q26). Be careful not to do that in next week’s presentation.
RUSS: OK.
TUTOR: And you made very little eye contact with the audience, because you were looking down at your notes most of the time. You need to be looking at the audience and only occasionally glancing at your notes. (Q27)
RUSS: Mmm.
TUTOR: Your body language was a little odd. Every time you showed a slide, you turned your back on the audience so you could look at it – you should have been looking at your laptop. And you kept scratching your head, so I found myself wondering when you were next going to do that, instead of listening to what you were saying! (Q28)
RUSS: Oh dear. What did you think of the language? I knew that not everyone was familiar with the subject, so I tried to make it as simple as I could.
TUTOR: Yes, that came across. You used a few words that are specific to the field, but you always explained what they meant, so the audience wouldn’t have had any difficulty understanding. (Q29)
RUSS: Uh-huh.
TUTOR: I must say the handouts you prepared were well thought out. They were a good summary of your presentation, which people would be able to refer to later on (Q30). So well done on that.
RUSS: Thank you.
TUTOR: Well, I hope that helps you with next week’s presentation.
RUSS: Yes, it will. Thanks a lot.
TUTOR: I’ll look forward to seeing a big improvement, then.
GIẢNG VIÊN: À… vào đi, Russ.
RUSS: Cảm ơn thầy/cô.
GIẢNG VIÊN: Em muốn trao đổi với tôi về bài thuyết trình trên lớp về công nghệ nano mà em phải trình bày vào tuần tới, đúng không?
RUSS: Đúng vậy. Em thật sự đang rất chật vật. Em chọn chủ đề vì chưa biết nhiều và muốn tìm hiểu thêm, nhưng giờ đã đọc quá nhiều nên lại có quá nhiều điều để nói; em có thể nói lâu hơn nhiều so với 20 phút được phân bổ. Em nên giả định các sinh viên khác chưa biết nhiều và giới thiệu tổng quan, hay cố khiến họ cùng hứng thú với một khía cạnh cụ thể như em? (Q21)
GIẢNG VIÊN: Cách nào cũng được, nhưng em phải xác định rõ trong đầu.
RUSS: Vậy em nghĩ mình sẽ trình bày tổng quan.
GIẢNG VIÊN: Một cách là trình bày các bước phát triển theo thứ tự thời gian.
RUSS: Vâng.
GIẢNG VIÊN: Hoặc em có thể nói về rất nhiều cách công nghệ nano đang được ứng dụng.
RUSS: Ý thầy/cô là những thứ như lớp màng mỏng trên màn hình máy ảnh giúp chống nước, và phụ gia làm mũ bảo hiểm xe máy bền và nhẹ hơn?
GIẢNG VIÊN: Chính xác. Một cách khác là tập trung vào tác động của nó trong một lĩnh vực cụ thể (Q22), chẳng hạn y học hoặc khám phá không gian.
RUSS: Như vậy sẽ dễ tập trung hơn. Có lẽ em nên làm thế.
GIẢNG VIÊN: Tôi nghĩ đó là ý hay.
RUSS: Việc đưa slide vào bài thuyết trình quan trọng đến mức nào?
GIẢNG VIÊN: Slide hoàn toàn không bắt buộc. Có nguy cơ em sẽ điều chỉnh lời nói chỉ để phù hợp với những slide tìm được. Dù dùng slide có thể tốt, em cũng có thể mất quá nhiều thời gian tìm hình phù hợp; có lẽ bỏ slide sẽ tốt hơn. (Q23)
RUSS: Em hiểu. Em còn băn khoăn về cách mở đầu. Các bài thuyết trình thường bắt đầu bằng “Đầu tiên tôi sẽ nói về… rồi sau đó…”, nhưng em định hỏi khán giả xem họ biết gì về công nghệ nano.
GIẢNG VIÊN: Cách đó ổn nếu em có một hoặc hai giờ, nhưng em có thể không sử dụng được các câu trả lời và chỉ làm hao hụt khoảng thời gian ngắn ngủi hiện có.
RUSS: Vậy có lẽ em nên nêu một ứng dụng cụ thể của công nghệ nano để thu hút sự chú ý của mọi người. (Q24)
GIẢNG VIÊN: Nghe hợp lý đấy.
RUSS: Theo thầy/cô, tiếp theo em nên làm gì? Hôm nay và ngày mai em thực sự phải lên kế hoạch.
GIẢNG VIÊN: Ban đầu, hãy bỏ qua toàn bộ ghi chú, lấy một mảnh giấy nhỏ và viết một câu ngắn duy nhất kết nối toàn bộ bài thuyết trình. (Q25) Có thể đơn giản như “Công nghệ nano đã cải thiện cuộc sống của chúng ta”. Sau đó lên nội dung xoay quanh câu đó; em luôn có thể sửa lại sau.
RUSS: Vâng.
————————————
GIẢNG VIÊN: Giờ hãy nghĩ đến lúc thực sự thuyết trình. Nếu tôi nhớ đúng, em mới trình bày một lần, về một thí nghiệm em từng tham gia.
RUSS: Đúng vậy. Bài đó khá tệ!
GIẢNG VIÊN: Có mặt tốt và mặt chưa tốt. Về cấu trúc, tôi cảm thấy em kết thúc khá đột ngột mà không tổng kết bài. (Q26) Tuần tới đừng lặp lại điều đó.
RUSS: Vâng.
GIẢNG VIÊN: Em cũng giao tiếp bằng mắt với khán giả rất ít vì phần lớn thời gian nhìn xuống ghi chú. Em cần nhìn khán giả và chỉ thỉnh thoảng liếc ghi chú. (Q27)
RUSS: Vâng.
GIẢNG VIÊN: Ngôn ngữ cơ thể của em hơi kỳ. Mỗi khi chiếu slide, em quay lưng lại với khán giả để nhìn nó, trong khi đáng ra nên nhìn máy tính. Em còn liên tục gãi đầu khiến tôi mải đoán khi nào em sẽ làm lại việc đó thay vì nghe em nói! (Q28)
RUSS: Ôi. Thầy/cô thấy phần ngôn ngữ thế nào? Em biết không phải ai cũng quen chủ đề nên đã cố diễn đạt đơn giản nhất có thể.
GIẢNG VIÊN: Điều đó thể hiện khá rõ. Em dùng một vài từ chuyên ngành nhưng luôn giải thích nghĩa, nên khán giả không gặp khó khăn khi hiểu. (Q29)
RUSS: Vâng.
GIẢNG VIÊN: Tôi phải nói rằng tài liệu phát tay em chuẩn bị được suy tính kỹ. Nó tóm tắt bài thuyết trình tốt và mọi người có thể tham khảo lại sau này. (Q30) Phần đó em làm rất tốt.
RUSS: Cảm ơn thầy/cô.
GIẢNG VIÊN: Tôi hy vọng những điều này giúp ích cho bài thuyết trình tuần tới.
RUSS: Chắc chắn có ạ. Cảm ơn rất nhiều.
GIẢNG VIÊN: Vậy tôi mong sẽ thấy một sự tiến bộ lớn.
Episodic memory
Trí nhớ tình tiết
Today, we’ll be continuing the series of lectures on memory by focusing on what is called episodic memory and what can happen if this is not working properly.
Episodic memory refers to the memory of an event or ‘episode’. Episodic memories allow us to mentally travel back in time to an event from the past. Episodic memories include various details about these events, for example, when an event happened and other information such as the location (Q31). To help understand this concept, try to remember the last time you ate dinner at a restaurant. The ability to remember where you ate, who you were with and the items you ordered are all features of an episodic memory.
Episodic memory is distinct from another type of memory called semantic memory. This is the type of factual memory that we have in common with everyone else – that is your general knowledge of the world (Q32). To build upon a previous example, remembering where you parked your car is an example of episodic memory, but your understanding of what a car is and how an engine works are examples of sematic memory. Unlike episodic memory, semantic memory isn’t dependent on recalling personal experiences. (Q33)
Episodic memory can be thought of as a process with several different steps of memory processing: encoding, consolidation and retrieval.
The initial step is called encoding. This involves the process of receiving and registering information, which is necessary for creating memories of information or events that you experience. The degree to which you can successfully encode information depends on the level of attention you give to an event while it’s actually happening (Q34). Being distracted can make effective encoding very difficult. Encoding of episodic memories is also influenced by how you process the event. For example, if you were introduced to someone called Charlie, you might make the connection that your uncle has the same name. Future recollection of Charlie’s name is much easier if you have a strategy to help you encode it. (Q35)
Memory consolidation, the next step in forming an episodic memory, is the process by which memories of encoded information are strengthened, stabilised and stored to facilitate later retrieval. Consolidation is most effective when the information being stored can be linked to an existing network of information (Q36). Consolidation makes it possible for you to store memories for later retrieval indefinitely. Forming strong memories depends on the frequency with which you try to retrieve them (Q37). Memories can fade or become harder to retrieve if they aren’t used very often.
The last step in forming episodic memories is called retrieval, which is the conscious recollection of encoded information. Retrieving information from episodic memory depends upon semantic, olfactory, auditory and visual factors. These help episodic memory retrieval by acting as a prompt. For example, when recalling where you parked your car you may use the colour of a sign close to where you parked (Q38). You actually have to mentally travel back to the moment you parked.
——————
There are a wide range of neurological diseases and conditions that can affect episodic memory. These range from Alzheimer’s to schizophrenia to autism. An impairment of episodic memory can have a profound effect on individuals’ lives. For example, the symptoms of schizophrenia can be reasonably well controlled by medication; however, patients’ episodic memory may still be impaired and so they are often unable to return to university or work. Recent studies have shown that computer- assisted games designed to keep the brain active can help improve their episodic memory. (Q39)
Episodic memories can help people connect with others, for instance by sharing intimate details about their past; something individuals with autism often have problems with. This may be caused by an absence of a sense of self (Q40). This is essential for the storage of episodic memory, and has been found to be impaired in children with autism. Research has shown that treatments that improve memory may also have a positive impact on children’s social development.
One study looked at a …
Hôm nay, chúng ta tiếp tục chuỗi bài giảng về trí nhớ, tập trung vào loại được gọi là trí nhớ tình tiết và những gì có thể xảy ra khi loại trí nhớ này hoạt động không đúng.
Trí nhớ tình tiết là ký ức về một sự kiện hay “tình tiết”. Nó cho phép chúng ta quay ngược thời gian trong tâm trí để trở về một sự kiện quá khứ. Trí nhớ tình tiết chứa nhiều chi tiết về sự kiện, chẳng hạn sự kiện xảy ra khi nào và các thông tin khác như địa điểm. (Q31) Để hiểu khái niệm này, hãy nhớ lại lần gần nhất bạn ăn tối ở nhà hàng. Khả năng nhớ nơi ăn, người đi cùng và các món đã gọi đều là đặc điểm của trí nhớ tình tiết.
Trí nhớ tình tiết khác với một loại khác gọi là trí nhớ ngữ nghĩa. Đây là trí nhớ về các sự thật mà chúng ta có chung với mọi người, tức kiến thức tổng quát về thế giới. (Q32) Ví dụ, nhớ nơi đã đỗ xe là trí nhớ tình tiết; còn hiểu ô tô là gì và động cơ hoạt động ra sao là trí nhớ ngữ nghĩa. Khác với trí nhớ tình tiết, trí nhớ ngữ nghĩa không phụ thuộc vào việc nhớ lại trải nghiệm cá nhân. (Q33)
Có thể xem trí nhớ tình tiết là một quá trình gồm nhiều bước xử lý khác nhau: mã hóa, củng cố và truy hồi.
Bước đầu tiên là mã hóa. Đây là quá trình tiếp nhận và ghi nhận thông tin, cần thiết để tạo ký ức về thông tin hoặc sự kiện đã trải nghiệm. Mức độ mã hóa thông tin thành công phụ thuộc vào mức độ chú ý của bạn khi sự kiện thực sự diễn ra. (Q34) Sự phân tâm có thể khiến việc mã hóa hiệu quả trở nên rất khó. Việc mã hóa trí nhớ tình tiết còn chịu ảnh hưởng bởi cách bạn xử lý sự kiện. Ví dụ, nếu được giới thiệu với một người tên Charlie, bạn có thể liên hệ rằng chú của mình cũng có tên đó. Sau này, việc nhớ tên Charlie sẽ dễ hơn nhiều nếu bạn có một chiến lược hỗ trợ mã hóa. (Q35)
Củng cố trí nhớ, bước tiếp theo trong quá trình hình thành trí nhớ tình tiết, là quá trình làm cho ký ức về thông tin đã mã hóa trở nên mạnh hơn, ổn định hơn và được lưu trữ để thuận tiện truy hồi sau này. Việc củng cố hiệu quả nhất khi thông tin đang lưu có thể được liên kết với một mạng lưới thông tin sẵn có. (Q36) Củng cố giúp bạn lưu ký ức để truy hồi về sau trong thời gian không xác định. Việc hình thành ký ức mạnh phụ thuộc vào tần suất bạn cố gắng truy hồi chúng. (Q37) Ký ức có thể phai mờ hoặc khó truy hồi hơn nếu ít được sử dụng.
Bước cuối cùng là truy hồi, tức chủ động nhớ lại thông tin đã mã hóa. Việc truy hồi từ trí nhớ tình tiết phụ thuộc vào các yếu tố ngữ nghĩa, khứu giác, thính giác và thị giác. Chúng hỗ trợ truy hồi bằng cách đóng vai trò gợi nhắc. Chẳng hạn, khi nhớ nơi đỗ xe, bạn có thể dựa vào màu của một tấm biển gần vị trí đó. (Q38) Bạn thực sự phải quay lại thời điểm đỗ xe trong tâm trí.
——————
Có nhiều bệnh và tình trạng thần kinh có thể ảnh hưởng đến trí nhớ tình tiết, từ Alzheimer đến tâm thần phân liệt và tự kỷ. Suy giảm trí nhớ tình tiết có thể tác động sâu sắc đến cuộc sống. Ví dụ, thuốc có thể kiểm soát khá tốt các triệu chứng tâm thần phân liệt, nhưng trí nhớ tình tiết của bệnh nhân vẫn có thể suy giảm, khiến họ thường không thể quay lại trường đại học hoặc công việc. Các nghiên cứu gần đây cho thấy những trò chơi có sự hỗ trợ của máy tính, được thiết kế để giữ não hoạt động, có thể giúp cải thiện trí nhớ tình tiết. (Q39)
Trí nhớ tình tiết có thể giúp mọi người kết nối với người khác, chẳng hạn bằng cách chia sẻ những chi tiết riêng tư trong quá khứ — điều người tự kỷ thường gặp khó khăn. Nguyên nhân có thể là sự thiếu vắng ý thức về bản thân. (Q40) Ý thức này rất cần thiết cho việc lưu trữ trí nhớ tình tiết và được phát hiện là suy giảm ở trẻ tự kỷ. Nghiên cứu cho thấy các phương pháp điều trị cải thiện trí nhớ cũng có thể tác động tích cực đến sự phát triển xã hội của trẻ.
Một nghiên cứu đã xem xét…





