Bản dịch song ngữ và gợi ý giải đề IELTS Reading 20 – Test 1

Mục lục
Cambridge 20 Test 1 | IELTS Power Up
Answer key

Bảng đáp án Cambridge IELTS 20 Reading Test 1

1. FALSE11. 198021. B31. B
2. FALSE12. funding22. C32. G
3. FALSE13. stakeholders23. A33. F
4. NOT GIVEN14. C24. oak34. E
5. TRUE15. G25. flooring35. D
6. TRUE16. B26. keel36. YES
7. bulbs17. E27. C37. NOT GIVEN
8. soil18. C28. A38. NO
9. feathers19. B29. D39. YES
10. deer20. A30. C40. YES

Lưu ý: viết đúng số từ và dạng từ theo yêu cầu của từng câu hỏi.

Bilingual passage

Cambridge 20 Test 1 Passage 1: The Kākāpō

The kākāpō is a nocturnal, flightless parrot that is critically endangered and one of New Zealand’s unique treasures.

Kākāpō là một loài vẹt sống về đêm, không biết bay, đang bị đe dọa nghiêm trọng và là một trong những báu vật độc đáo của New Zealand.

1, The kākāpō, also known as the owl parrot, is a large, forest-dwelling bird, with a pale owl-like face. Up to 64 cm in length, it has predominantly yellow-green feathers, forward-facing eyes, a large grey beak, large blue feet, and relatively short wings and tail. (Q1) It is the world’s only flightless parrot, and is also possibly one of the world’s longest-living birds, with a reported lifespan of up to 100 years.

Kākāpō, còn gọi là “vẹt cú”, là một loài chim lớn sống trong rừng, với khuôn mặt nhợt nhạt giống cú. Dài đến 64cm, nó có lông màu xanh vàng, mắt hướng về phía trước, mỏ xám lớn, chân xanh dương to và đôi cánh và đuôi tương đối ngắn. Đây là loài vẹt duy nhất trên thế giới không biết bay, và cũng có thể là một trong những loài chim sống lâu nhất thế giới, với tuổi thọ lên đến 100 năm.

2, Kākāpō are solitary birds and tend to occupy the same home range for many years. They forage on the ground and climb high into trees. They often leap from trees and flap their wings, but at best manage a controlled descent to the ground. (Q7) They are entirely vegetarian, with their diet including the leaves, roots and bark of trees as well as bulbs, and fern fronds.

Kākāpō là loài chim sống đơn độc và thường ở một khu vực cố định trong nhiều năm. Chúng kiếm ăn dưới mặt đất và leo lên những cây cao. Chúng thường nhảy từ cây xuống và vỗ cánh, nhưng cùng lắm cũng chỉ hạ cánh có kiểm soát xuống mặt đất. Chúng hoàn toàn ăn chay, với chế độ ăn bao gồm lá, rễ, vỏ cây, củ và lá dương xỉ.

3, (Q2) Kākāpő breed in summer and autumn, but only in years when food is plentiful. Males play no part in incubation or chick-rearing – females alone incubate eggs and feed the chicks. (Q8) The 1-4 eggs are laid in soil, which is repeatedly turned over before and during incubation. (Q3) The female kākāpō has to spend long periods away from the nest searching for food, which leaves the unattended eggs and chicks particularly vulnerable to predators.

Kākāpō sinh sản vào mùa hè và thu, nhưng chỉ trong những năm có nhiều thức ăn. Con đực không tham gia ấp trứng hay nuôi con – chỉ có con cái ấp trứng và cho con ăn. Mỗi lần đẻ 1–4 trứng xuống đất, lớp đất sẽ được lật liên tục trước và trong quá trình ấp. Con cái phải rời tổ lâu để tìm thức ăn, khiến trứng và con non không được chăm sóc, dễ bị kẻ săn mồi tấn công.

4, Before humans arrived, kākāpō were common throughout New Zealand’s forests. However, this all changed with the arrival of the first Polynesian settlers about 700 years ago. For the early settlers, the flightless kākāpō was easy prey. They ate its meat and (Q9) used its feathers to make soft cloaks. (Q4) With them came the Polynesian dog and rat, which also preyed on kākāpō. By the time European colonisers arrived in the early 1800s, kākāpō had become confined to the central North Island and forested parts of the South Island. The fall in kākāpō number was accelerated by European colonisation. A great deal of habitat was lost through forest clearance, (Q10) and introduced species such as deer depleted the remaining forests of food. Other predators such as cats, stoats and two more species of rat were also introduced. The kākāpō were in serious trouble.

Trước khi con người xuất hiện, kākāpō từng phổ biến khắp các khu rừng ở New Zealand. Tuy nhiên, mọi thứ đã thay đổi khi những người định cư đầu tiên từ Polynesia đến cách đây khoảng 700 năm. Đối với những người định cư đầu tiên, loài kākāpō không biết bay là con mồi dễ dàng. Họ ăn thịt và dùng lông của nó để làm áo choàng mềm. Cùng với họ còn có chó và chuột Polynesia, những loài này cũng săn kākāpō. Khi những người thực dân châu Âu đến vào đầu những năm 1800, kākāpō đã bị giới hạn trong khu vực trung tâm của Đảo Bắc và một số khu rừng ở Đảo Nam. Sự suy giảm số lượng kākāpō càng trầm trọng hơn do quá trình thực dân hóa của châu Âu. Một lượng lớn môi trường sống bị mất đi do chặt phá rừng, và các loài du nhập như hươu làm cạn kiệt nguồn thức ăn trong rừng còn lại. Các loài săn mồi khác như mèo, chồn và hai loài chuột khác cũng được đưa vào. Kākāpō đã rơi vào tình trạng nguy kịch.

5, In 1894, the New Zealand government launched its first attempt to save the kākāpō. Conservationist Richard Henry led an effort to relocate several hundred of the birds to predator-free Resolution Island in Fiordland. Unfortunately, the island didn’t remain predator-free – stoats arrived within six years, eventually destroying the kākāpō population. By the mid-1900s, the kākāpō was practically a lost species. Only a few clung to life in the most isolated parts of New Zealand.

Năm 1894, chính phủ New Zealand bắt đầu nỗ lực đầu tiên nhằm cứu loài kākāpō. Nhà bảo tồn Richard Henry dẫn đầu một chiến dịch đưa hàng trăm con chim này đến đảo Resolution ở Fiordland, nơi không có loài săn mồi. Thật không may, đảo này không giữ được tình trạng không có thú săn mồi – chồn đã đến trong vòng sáu năm, và cuối cùng phá hủy hoàn toàn quần thể kākāpō. Vào giữa thế kỷ 20, kākāpō gần như tuyệt chủng. Chỉ một vài cá thể còn bám trụ ở những vùng hẻo lánh nhất của New Zealand.

6, From 1949 to 1973, the newly formed New Zealand Wildlife Service made over 60 expeditions to find kākāpō, focusing mainly on Fiordland. Six were caught, but there were no females amongst them and all but one died within a few months of captivity. In 1974, a new initiative was launched, and by 1977, 18 more kākāpō were found in Fiordland. However, there were still no females. In 1977, a large population of males was spotted in Rakiura – a large island free from stoats, ferrets and weasels. (Q11) There were about 200 individuals, and in 1980 it was confirmed females were also present. These birds have been the foundation of all subsequent work in managing the species.

Từ năm 1949 đến 1973, Cục Động vật Hoang dã New Zealand vừa mới thành lập đã thực hiện hơn 60 chuyến thám hiểm để tìm kiếm kākāpō, chủ yếu tập trung ở khu vực Fiordland. Sáu con được bắt, nhưng không có con cái nào và tất cả trừ một con đều chết chỉ sau vài tháng nuôi nhốt. Năm 1974, một sáng kiến mới được triển khai, và đến năm 1977, thêm 18 con kākāpō được tìm thấy ở Fiordland. Tuy nhiên, vẫn không có con cái nào. Cũng trong năm đó, một quần thể lớn kākāpō đực được phát hiện ở Rakiura – một hòn đảo lớn không có chồn, chồn sương và chồn hôi. Có khoảng 200 cá thể, và đến năm 1980 người ta xác nhận rằng có cả con cái. Những con chim này đã trở thành nền tảng cho toàn bộ các công tác bảo tồn về sau.

7, Unfortunately, (Q5) predation by feral cats on Rakiura Island led to a rapid decline in kākāpō numbers. As a result, during 1980–97, the surviving population was evacuated to three island sanctuaries: Codfish Island, Maud Island and Little Barrier Island. However, breeding success was hard to achieve. Rats were found to be a major predator of kakapo chicks and an insufficient number of chicks survived to offset adult mortality. By 1995, although at least 12 chicks had been produced on the islands, only three had survived. The kākāpō population had dropped to 51 birds. The critical situation prompted an urgent review of kākāpō management in New Zealand.

Thật không may, việc bị mèo hoang săn mồi trên đảo Rakiura đã khiến số lượng kākāpō suy giảm nhanh chóng. Do đó, trong giai đoạn từ năm 1980 đến 1997, toàn bộ cá thể còn sống sót đã được sơ tán đến ba hòn đảo bảo tồn: đảo Codfish, đảo Maud và đảo Little Barrier. Tuy nhiên, việc nhân giống thành công vẫn rất khó đạt được. Chuột được xác định là loài săn mồi chính đối với chim non kākāpō, và số lượng chim non sống sót là không đủ để bù đắp cho tỷ lệ tử vong ở chim trưởng thành. Tính đến năm 1995, mặc dù có ít nhất 12 chim non được sinh ra trên các hòn đảo này, chỉ có ba con sống sót. Số lượng kākāpō toàn cầu đã giảm xuống chỉ còn 51 cá thể. Tình hình nghiêm trọng này đã dẫn đến một cuộc đánh giá khẩn cấp về chiến lược bảo tồn kākāpō tại New Zealand.

8, In 1996, a new Recovery Plan was launched, together with a specialist advisory group called the Kākāpō Scientific and Technical Advisory Committee and (Q12) a higher amount of funding. Renewed steps were taken to control predators on the three islands. Cats were eradicated from Little Barrier Island in 1980, and possums were eradicated from Codfish Island by 1986. However, the population did not start to increase until rats were removed from all three islands, and the birds were more intensively managed. This involved moving the birds between islands, supplementary feeding of adults and (Q6) rescuing and hand-raising any failing chicks.

Vào năm 1996, một Kế hoạch Phục hồi mới được khởi động, đi kèm với việc thành lập một nhóm cố vấn chuyên môn có tên là Ủy ban Cố vấn Khoa học và Kỹ thuật về Kākāpō, cùng với khoản tài trợ được tăng cường. Các biện pháp mới đã được thực hiện để kiểm soát các loài săn mồi trên ba hòn đảo. Mèo đã bị tiêu diệt hoàn toàn trên đảo Little Barrier từ năm 1980, và loài thú có túi possum đã bị loại bỏ khỏi đảo Codfish vào năm 1986. Tuy nhiên, quần thể kākāpō vẫn chưa có dấu hiệu tăng trưởng cho đến khi loài chuột được loại bỏ hoàn toàn khỏi cả ba hòn đảo, và những con chim được quản lý một cách chuyên sâu hơn. Những biện pháp này bao gồm: di chuyển các cá thể giữa các đảo, cung cấp thức ăn bổ sung cho chim trưởng thành, và giải cứu, nuôi dưỡng thủ công những chim non có nguy cơ tử vong.

9, After the first five years of the Recovery Plan, the population was on target. By 2000, five new females had been produced, and the total population had grown to 62 birds. For the first time, there was cautious optimism for the future of kākāpō and by June 2020, a total of 210 birds was recorded.

Sau năm năm đầu tiên triển khai Kế hoạch Phục hồi, số lượng kākāpō đã đạt được đúng như kỳ vọng. Tính đến năm 2000, đã có năm con cái mới được sinh ra, và tổng số cá thể tăng lên 62 con. Lần đầu tiên, người ta bắt đầu có sự lạc quan thận trọng về tương lai của loài kākāpō, và đến tháng 6 năm 2020, tổng số cá thể đã được ghi nhận là 210 con.

10, Today, kākāpō management continues to be guided by the kākāpō Recovery Plan. Its key goals are: minimise the loss of genetic diversity in the kākāpō population, restore or maintain sufficient habitat to accommodate the expected increase in the kākāpō population, and (Q13) ensure stakeholders continue to be fully engaged in the preservation of the species.

Hôm nay, công tác quản lý kākāpō vẫn tiếp tục được định hướng bởi Kế hoạch Phục hồi kākāpō. Các mục tiêu chính của kế hoạch này bao gồm: Giảm thiểu sự mất mát về đa dạng di truyền trong quần thể kākāpō, khôi phục hoặc duy trì môi trường sống đủ rộng để đáp ứng sự gia tăng số lượng kākāpō trong tương lai, và đảm bảo rằng các bên liên quan tiếp tục tham gia đầy đủ vào công tác bảo tồn loài này.

Bilingual passage

Cambridge 20 Test 1 Passage 2: Bring elms to Britain

Mark Rowe investigates attempts to reintroduce elms to Britain

Mark Rowe tìm hiểu các nỗ lực tái du nhập loài cây du vào Anh Quốc.

A. Around 25 million elms, accounting for 90% of all elm trees in the UK, died during the 1960s and ’70s of Dutch elm disease. In the aftermath, the elm, once so dominant in the British landscape, was largely forgotten. However, there’s now hope the elm may be reintroduced to the countryside of central and southern England. Any reintroduction will start from a very low base. ‘The impact of the disease is difficult to picture if you hadn’t seen what was there before,’ says Matt Elliot of the Woodland Trust. ‘You look at old photographs from the 1960s and it’s only then that you realise the impact [elms had] … They were significant, large trees… then they were gone.’

Khoảng 25 triệu cây du, chiếm 90% tổng số cây du ở Vương quốc Anh, đã chết trong những năm 1960 và 1970 do bệnh cây du Hà Lan. Hệ quả sau đó là cây du – loài từng chiếm ưu thế trong cảnh quan nước Anh – đã gần như bị lãng quên. Tuy nhiên, hiện nay có hy vọng loài cây này có thể được tái du nhập vào các vùng nông thôn miền trung và nam nước Anh. Việc tái du nhập sẽ bắt đầu từ một nền tảng rất thấp. “Tác động của căn bệnh đó rất khó để hình dung nếu bạn chưa từng thấy cảnh quan trước kia,” theo lời Matt Elliot từ tổ chức Woodland Trust. “Bạn nhìn lại những bức ảnh cũ từ thập niên 1960 và chỉ khi ấy bạn mới nhận ra sức ảnh hưởng của cây du… Chúng từng là những cây to lớn, rất đáng kể… rồi đột ngột biến mất.”

B. The disease is caused by a fungus that blocks the elms’ vascular (water, nutrient and food transport) system, causing branches to wilt and die. A first epidemic, which occurred in the 1920s, gradually died down, but (Q16) in the ’70s a second epidemic was triggered by shipments of elm from Canada. The wood came in the form of logs destined for boat building and its intact bark was perfect for the elm bark beetles that spread the deadly fungus. This time, the beetles carried a much more virulent strain that destroyed the vast majority of British elms.

Căn bệnh này do một loại nấm gây ra, loại nấm này làm tắc nghẽn hệ thống mạch dẫn (nước, chất dinh dưỡng và thực phẩm) của cây du, khiến các cành cây héo rũ và chết dần. Dịch bệnh đầu tiên xảy ra vào những năm 1920 và dần dần suy yếu, nhưng vào những năm 1970, một đợt dịch thứ hai đã được châm ngòi bởi các lô hàng gỗ du từ Canada. Gỗ được vận chuyển dưới dạng khúc gỗ để dùng trong đóng tàu, và lớp vỏ nguyên vẹn của chúng lại là điều kiện lý tưởng cho loài bọ cánh cứng sống trên vỏ cây – loài truyền loại nấm chết người này. Lần này, bọ mang theo một chủng nấm độc hại hơn nhiều, đã tàn phá phần lớn các cây du ở Anh.

C. Today, elms still exist in the southern English countryside but mostly only in low hedgerows between fields. “We have millions of small elms in hedgerows but they get targeted by the beetle as soon as they reach a certain size,’ says Karen Russell, co-author of the report Where we are with elm. (Q18) Once the trunk of the elm reaches 10–15 centimetres or so in diameter, it becomes a perfect size for beetles to lay eggs and for the fungus to take hold. Yet mature specimens have been identified, in counties such as Cambridgeshire, that are hundreds of years old, and have mysteriously escaped the epidemic. The key, Russell says, is to identify and study those trees that have survived and work out why they stood tall when millions of others succumbed. (Q14) Nevertheless, opportunities are limited as the number of these mature survivors is relatively small. (Q21) ‘What are the reasons for their survival?’ asks Russell. ‘Avoidance, tolerance, resistance? We don’t know where the balance lies between the three. I don’t see how it can be entirely down to luck.’

Ngày nay, cây du vẫn tồn tại ở vùng nông thôn phía nam nước Anh, nhưng chủ yếu chỉ xuất hiện trong các hàng rào cây thấp giữa các cánh đồng. “Chúng ta có hàng triệu cây du nhỏ trong các hàng rào, nhưng ngay khi chúng đạt đến 1 kích thước nhất định thì bọ cánh cứng nhắm vào,” theo lời Karen Russell, đồng tác giả của báo cáo “Chúng ta đang ở đâu với cây du”. Khi thân cây đạt đường kính khoảng 10–15 cm, nó trở thành kích thước lý tưởng để bọ đẻ trứng và nấm phát triển mạnh. Tuy nhiên, một số cây trưởng thành đã được phát hiện tại các hạt như Cambridgeshire, những cây này đã sống hàng trăm năm và một cách bí ẩn đã thoát khỏi đợt dịch. Russell cho rằng điều then chốt là xác định và nghiên cứu các cây sống sót này để tìm hiểu lý do vì sao chúng vẫn đứng vững trong khi hàng triệu cây khác đã bị khuất phục. Tuy vậy, cơ hội rất hạn chế vì số lượng cây sống sót trưởng thành này tương đối ít. “Lý do chúng sống sót là gì?” Russell đặt câu hỏi. “Tránh được, chịu đựng được, hay kháng được? Chúng ta không biết tỷ lệ của từng yếu tố là bao nhiêu. Tôi không nghĩ tất cả chỉ là do may mắn.”

D. (Q24) For centuries, elm ran a close second to oak as the hardwood tree of choice in Britain and was in many instances the most prominent tree in the landscape. Not only was elm common in European forests, it became a key component of birch, ash and hazel woodlands. The use of elm is thought to go back to the Bronze Age, when it was widely used for tools. Elm was also the preferred material for shields and early swords. In the 18th century, it was planted more widely and its wood was (Q25) used for items such as storage crates and flooring. It was also suitable for items that experienced high levels of impact and (Q26) was used to build the keel of the 19th-century sailing ship Cutty Sark as well as mining equipment.

Trong nhiều thế kỷ, cây du chỉ đứng sau cây sồi về mức độ ưa chuộng trong số các loại gỗ cứng tại Anh và trong nhiều trường hợp, nó là loài cây nổi bật nhất trong cảnh quan chung. Không chỉ phổ biến trong các khu rừng châu Âu, cây du còn trở thành một thành phần quan trọng trong các khu rừng hỗn hợp gồm cây bạch dương, tần bì và phỉ. Việc sử dụng cây du được cho là đã bắt đầu từ Thời kỳ đồ đồng, khi nó được sử dụng rộng rãi để làm công cụ. Cây du cũng là vật liệu được ưa chuộng để làm khiên và kiếm thời kỳ đầu. Vào thế kỷ 18, nó được trồng rộng rãi hơn, và gỗ của nó được dùng để làm các vật dụng như thùng chứa hàng và sàn nhà. Gỗ du cũng rất phù hợp để làm những vật chịu tác động mạnh, ví dụ như phần sống tàu của con thuyền buồm thế kỷ 19 Cutty Sark cũng như thiết bị khai thác mỏ.

E. Given how ingrained elm is in British culture, it’s unsurprising the tree has many advocates. Amongst them is Peter Bourne of the National Elm Collection in Brighton. ‘I saw Dutch elm disease unfold as a small boy,’ he says. (Q23) ‘The elm seemed to be part of rural England, but I remember watching trees just lose their leaves and that really stayed with me.’ Today, the city of Brighton’s elms total about 17,000. (Q17) Local factors appear to have contributed to their survival. Strong winds from the sea make it difficult for the determined elm bark beetle to attack this coastal city’s elm population. However, the situation is precarious. (Q22) ‘The beetles can just march in if we’re not careful, as the threat is right on our doorstep,’ says Bourne.

Xét đến việc cây du đã ăn sâu vào văn hóa nước Anh, thì việc nó có nhiều người ủng hộ cũng không có gì ngạc nhiên. Một trong số đó là Peter Bourne thuộc Bộ sưu tập Cây du Quốc gia ở Brighton. “Tôi đã chứng kiến bệnh chết cây du Hà Lan diễn ra khi tôi còn nhỏ,” ông nói. “Cây du dường như là một phần của vùng quê nước Anh, nhưng tôi vẫn nhớ cảnh những cái cây nước Anh, nhưng tôi vẫn rụng lá và ký ức đó vẫn đọng lại mãi trong tôi.” Ngày nay, thành phố Brighton có khoảng 17.000 cây du. Có vẻ như một số yếu tố địa phương đã giúp chúng sống sót. Những cơn gió mạnh từ biển khiến loài bọ vỏ cây du, vốn rất cứng cỏi, khó tấn công được quần thể cây du ở thành phố ven biển này. Tuy nhiên, tình hình vẫn rất bấp bênh. “Bọ có thể tràn vào bất cứ lúc nào nếu chúng ta không cẩn thận, vì mối đe dọa đã ở ngay trước cửa nhà rồi,” Bourne nói.

F. Any prospect of the elm returning relies heavily on trees being either resistant to, or tolerant of, the disease. This means a widespread reintroduction would involve existing or new hybrid strains derived from resistant, generally non-native elm species. A new generation of seedlings have been bred and tested to see if they can withstand the fungus by cutting a small slit on the bark and injecting a tiny amount of the pathogen. (Q19) ‘The effects are very quick,’ says Russell. ‘You return in four to six weeks and trees that are resistant show no symptoms, whereas those that are susceptible show leaf loss and may even have died completely.’

Mọi khả năng cây du quay trở lại đều phụ thuộc nhiều vào việc chúng có khả năng kháng lại hoặc chịu đựng được căn bệnh này. Điều đó có nghĩa là một đợt tái trồng rộng rãi sẽ cần đến các giống cây lai hiện có hoặc mới được tạo ra, có nguồn gốc từ các loài du không bản địa nhưng có khả năng kháng bệnh. Một thế hệ cây con mới đã được lai tạo và kiểm nghiệm để xem liệu chúng có thể chống chịu được loại nấm gây bệnh hay không, bằng cách rạch một khe nhỏ trên vỏ cây và tiêm vào một lượng rất nhỏ mầm bệnh. “Hiệu quả thấy rất nhanh,” Russell nói. “Sau 4–6 tuần quay lại, những cây có khả năng kháng bệnh sẽ không có triệu chứng gì, còn những cây dễ bị nhiễm bệnh thì bắt đầu rụng lá, thậm chí có thể đã chết hoàn toàn.”

G. All of this raises questions of social acceptance, acknowledges Russell. ‘If we’re putting elm back into the landscape, a small element of it is not native – are we bothered about that?’ (Q15) For her, the environmental case for reintroducing elm is strong. ‘They will host wildlife, which is a good thing.’ Others are more wary. ‘On the face of it, it seems like a good idea,’ says Elliot. The problem, he suggests, is that, ‘You’re replacing a native species with a horticultural analogue*. You’re effectively cloning.’ There’s also the risk of introducing new diseases. Rather than plant new elms, the Woodland Trust emphasises providing space to those elms that have survived independently. (Q20) ‘Sometimes the best thing you can do is just give nature time to recover – over time, you might get resistance,’ says Elliot.

Tất cả những điều này đặt ra câu hỏi về sự chấp nhận của xã hội, Russell thừa nhận. “Nếu chúng ta đang đưa cây du trở lại cảnh quan, mà một phần nhỏ trong số đó không phải là loài bản địa, thì liệu chúng ta có bận tâm về điều đó không?” Với cô, lập luận về môi trường cho việc tái trồng cây du là rất thuyết phục. “Chúng sẽ cung cấp nơi sống cho động vật hoang dã – đó là điều tốt.” Tuy nhiên, một số người lại thận trọng hơn. “Bề ngoài thì có vẻ là một ý tưởng hay,” Elliot nói. Vấn đề, theo ông, là “Bạn đang thay thế loài bản địa bằng một phiên bản nhân tạo trong làm vườn. Về cơ bản, bạn đang nhân bản.” Cũng có rủi ro là bạn có thể vô tình mang theo các bệnh mới. Thay vì trồng cây du mới, tổ chức Woodland Trust nhấn mạnh việc dành không gian cho những cây đã tự sống sót được. “Đôi khi điều tốt nhất bạn có thể làm là cứ để thiên nhiên phục hồi. Qua thời gian, bạn có thể thấy xuất hiện khả năng kháng bệnh,” Elliot nói.

*horticultural analogue: a cultivated plant species that is genetically similar to an existing species

horticultural analogue: một loài thực vật được canh tác có đặc điểm di truyền tương đồng với một loài đã tồn tại trong tự nhiên.

Bilingual passage

Cambridge 20 Test 1 Passage 3: How stress affects our judgement

1, (Q27) Some of the most important decisions of our lives occur while we’re feeling stressed and anxious. From medical decisions to financial and professional ones, we are all sometimes required to weigh up information under stressful conditions. But do we become better or worse at processing and using information under such circumstances?

Một số quyết định quan trọng nhất trong cuộc đời chúng ta diễn ra khi chúng ta đang cảm thấy căng thẳng và lo lắng. Từ các quyết định y tế đến tài chính và nghề nghiệp, đôi khi tất cả chúng ta đều phải cân nhắc thông tin trong những điều kiện gây căng thẳng. Nhưng liệu trong những hoàn cảnh như vậy, chúng ta sẽ xử lý và sử dụng thông tin tốt hơn hay kém đi?

2, My colleague and I, both neuroscientists, wanted to investigate how the mind operates under stress, so we visited some local fire stations. (Q28) Firefighters’ workdays vary quite a bit. Some are pretty relaxed; they’ll spend their time washing the truck, cleaning equipment, cooking meals and reading. Other days can be hectic, with numerous life-threatening incidents to attend to; they’ll enter burning homes to rescue trapped residents, and assist with medical emergencies. These ups and downs presented the perfect setting for an experiment on how people’s ability to use information changes when they feel under pressure.

Tôi và đồng nghiệp – cả hai đều là nhà khoa học thần kinh, muốn nghiên cứu cách bộ não hoạt động dưới căng thẳng, nên chúng tôi đã đến thăm một số trạm cứu hỏa địa phương. Ngày làm việc của các lính cứu hỏa rất khác nhau. Có ngày khá thư giãn; họ dành thời gian rửa xe cứu hỏa, vệ sinh thiết bị, nấu ăn và đọc sách. Nhưng cũng có ngày vô cùng bận rộn, với nhiều sự cố nguy hiểm đến tính mạng cần giải quyết; họ phải xông vào những ngôi nhà đang cháy để giải cứu những cư dân bị mắc kẹt, và hỗ trợ các trường hợp cấp cứu y tế. Những thăng trầm này đã tạo ra bối cảnh lý tưởng cho một thí nghiệm về cách khả năng xử lý thông tin của con người thay đổi khi họ chịu áp lực.

3, We found that perceived threat acted as a trigger for a stress reaction that made the task of processing information easier for the firefighters – but only as long as it conveyed bad news.

Chúng tôi phát hiện rằng mối đe dọa được cảm nhận đóng vai trò như một tác nhân kích hoạt cho phản ứng căng thẳng, khiến cho việc xử lý thông tin trở nên dễ dàng hơn đối với các lính cứu hỏa – nhưng chỉ khi thông tin đó truyền tải tin xấu.

4, (Q29) This is how we arrived at these results. We asked the firefighters to estimate their likelihood of experiencing 40 different adverse events in their life, such as being involved in an accident or becoming a victim of card fraud. We then gave them either good news (that their likelihood of experiencing these events was lower than they’d thought) or bad news (that it was higher) and asked them to provide new estimates.

Đây là cách chúng tôi đi đến những kết quả này. Chúng tôi yêu cầu các lính cứu hỏa ước tính khả năng họ sẽ gặp phải 40 sự kiện bất lợi trong đời, ví dụ như bị tai nạn hoặc trở thành nạn nhân của gian lận thẻ. Sau đó, chúng tôi đưa cho họ tin tốt (rằng khả năng xảy ra các sự kiện đó thấp hơn họ nghĩ) hoặc tin xấu (rằng nó cao hơn), rồi yêu cầu họ đưa ra ước tính mới.

5, People are normally quite optimistic –(Q31) they will ignore bad news and embrace the good. This is what happened when the firefighters were relaxed; but when they were under stress, a different pattern emerged. (Q32) Under these conditions, they became hyper-vigilant to bad news, even when it had nothing to do with their job (such as learning that the likelihood of card fraud was higher than they’d thought), and altered their beliefs in response. (Q33) In contrast, stress didn’t change how they responded to good news (such as learning that the likelihood of card fraud was lower than they’d thought).

Con người thường khá lạc quan – họ sẽ phớt lờ tin xấu và đón nhận tin tốt. Điều này đúng với những người lính cứu hỏa khi họ đang thư giãn; nhưng khi họ chịu căng thẳng, một mô hình phản ứng khác đã xuất hiện. Trong những điều kiện đó, họ trở nên cực kỳ cảnh giác với tin xấu, ngay cả khi nó không liên quan đến công việc của họ (chẳng hạn như biết rằng khả năng bị lừa đảo thẻ tín dụng cao hơn họ nghĩ), và họ đã thay đổi niềm tin của mình theo đó. Trái lại, sự căng thẳng không làm thay đổi cách họ phản ứng với tin tốt (chẳng hạn như biết rằng khả năng bị lừa đảo thẻ tín dụng thấp hơn họ nghĩ).

6. Back in our lab, we observed the same pattern in students who were told (Q34) they had to give a surprise public speech, which would be judged by a panel, recorded and posted online. Sure enough, their cortisol levels spiked, their heart rates went up and they suddenly became better at processing unrelated, yet alarming, information about rates of disease and violence.

Khi trở lại phòng thí nghiệm, chúng tôi quan sát thấy mô hình tương tự ở các sinh viên – những người được thông báo rằng họ phải thuyết trình bất ngờ trước công chúng, sẽ bị một hội đồng đánh giá, ghi hình và đăng lên mạng. Quả thật, mức cortisol của họ đã tăng vọt, nhịp tim tăng lên, và họ đột nhiên trở nên giỏi hơn trong việc xử lý những thông tin không liên quan nhưng đáng báo động về tỷ lệ bệnh tật và bạo lực.

7, (Q35) When we experience stressful events, a physiological change is triggered that causes us to take in warnings and focus on what might go wrong. Brain imaging reveals that this ‘switch‘ is related to a sudden boost in a neural signal important for learning, (Q30) specifically in response to unexpected warning signs, such as faces expressing fear.

Khi chúng ta trải qua những sự kiện gây căng thẳng, một sự thay đổi sinh lý sẽ được kích hoạt, khiến chúng ta tiếp nhận các cảnh báo và tập trung vào những điều có thể diễn ra sai lệch. Các hình ảnh chụp não cho thấy rằng sự “chuyển đổi” này liên quan đến một sự gia tăng đột ngột của tín hiệu thần kinh – tín hiệu đóng vai trò quan trọng trong việc học, đặc biệt là khi phản ứng với những dấu hiệu cảnh báo bất ngờ, chẳng hạn như khuôn mặt thể hiện sự sợ hãi.

8, Such neural engineering could have helped prehistoric humans to survive. When our ancestors found themselves surrounded by hungry animals, they would have benefited from an increased ability to learn about hazards. In a safe environment, however, it would have been wasteful to be on high alert constantly. So, a neural switch that automatically increases or decreases our ability to process warnings in response to changes in our environment could have been useful. In fact, people with clinical depression and anxiety seem unable to switch away from a state in which they absorb all the negative messages around them.

Kỹ thuật thần kinh như vậy có thể đã giúp loài người thời tiền sử sống sót. Khi tổ tiên của chúng ta bị bao vây bởi các loài động vật đói khát, họ hẳn đã được lợi từ khả năng học hỏi tốt hơn về những mối nguy hiểm xung quanh. Tuy nhiên, trong môi trường an toàn, việc luôn trong trạng thái cảnh giác cao độ sẽ rất lãng phí. Vì vậy, một chuyển đổi thần kinh có khả năng tự động tăng hoặc giảm khả năng xử lý cảnh báo tùy theo thay đổi của môi trường có thể đã là một điều rất hữu ích. Trên thực tế, những người mắc trầm cảm lâm sàng và rối loạn lo âu dường như không thể chuyển khỏi trạng thái tiếp nhận tất cả các thông điệp tiêu cực xung quanh họ.

9, It is also important to realise that stress travels rapidly from one person to the next. If a co-worker is stressed, we are more likely to tense up and feel stressed ourselves. We don’t even need to be in the same room with someone for their emotions to influence our behaviour. (Q36) Studies show that if we observe positive feeds on social media, such as images of a pink sunset, we are more likely to post uplifting messages ourselves. If we observe negative posts, such as complaints about a long queue at the coffee shop, we will in turn create more negative posts.

Điều quan trọng nữa là nhận ra rằng căng thẳng lan truyền rất nhanh từ người này sang người khác. Nếu một đồng nghiệp đang căng thẳng, chúng ta có xu hướng căng thẳng theo và cảm thấy áp lực giống họ. Thậm chí, chúng ta không cần phải ở cùng một phòng với ai đó thì cảm xúc của họ vẫn có thể ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta. Các nghiên cứu chỉ ra rằng nếu ta nhìn thấy những nội dung tích cực trên mạng xã hội, như hình ảnh hoàng hôn hồng, ta có xu hướng đăng những thông điệp tích cực hơn. Ngược lại, nếu ta thấy bài viết tiêu cực, chẳng hạn như lời than phiền về việc phải xếp hàng dài ở quán cà phê, thì ta cũng sẽ tạo ra nhiều bài viết tiêu cực hơn.

10, In some ways, many of us now live as if we are in danger, constantly ready to tackle demanding emails and text messages, and respond to news alerts and comments on social media. (Q37) Repeatedly checking your phone, according to a survey conducted by the American Psychological Association, is related to stress. In other words, a pre-programmed physiological reaction, which evolution has equipped us with to help us avoid famished predators, is now being triggered by an online post. Social media posting, according to one study, raises your pulse, makes you sweat, and enlarges your pupils more than most daily activities.

Ở một khía cạnh nào đó, nhiều người trong chúng ta hiện đang sống như thể mình đang gặp nguy hiểm, luôn sẵn sàng để xử lý các email căng thẳng và tin nhắn, cũng như phản hồi các thông báo tin tức và bình luận trên mạng xã hội. Việc liên tục kiểm tra điện thoại, theo một khảo sát được thực hiện bởi Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, có liên quan đến căng thẳng. Nói cách khác, một phản ứng sinh lý được lập trình sẵn, thứ mà tiến hóa đã trang bị cho chúng ta để tránh những kẻ săn mồi đói khát, nay lại bị kích hoạt chỉ bởi một bài đăng trực tuyến. Theo một nghiên cứu, việc đăng bài trên mạng xã hội làm tăng nhịp tim, khiến bạn đổ mồ hôi, và làm giãn đồng tử của bạn nhiều hơn hầu hết các hoạt động thường ngày khác.

11, The fact that stress increases the likelihood that we will focus more on alarming messages, together with the fact that it spreads extremely rapidly, can create collective fear that is not always justified. After a stressful public event, such as a natural disaster or major financial crash, (Q38) there is often a wave of alarming information in traditional and social media, which individuals become very aware of. But that has the effect of exaggerating existing danger. And so, a reliable pattern emerges – stress is triggered, spreading from one person to the next, which temporarily enhances the likelihood that people will take in negative reports, which increases stress further. (Q39) As a result, trips are cancelled, even if the disaster took place across the globe; stocks are sold, even when holding on is the best thing to do.

Thực tế rằng căng thẳng làm tăng khả năng chúng ta tập trung vào các thông điệp gây lo lắng, cùng với việc nó lan truyền cực kỳ nhanh chóng, có thể tạo ra nỗi sợ tập thể không phải lúc nào cũng hợp lý. Sau một sự kiện căng thẳng trên diện rộng, như thảm họa thiên nhiên hoặc khủng hoảng tài chính lớn, thường sẽ có một làn sóng thông tin báo động trên các phương tiện truyền thống và mạng xã hội, khiến người ta trở nên rất nhạy cảm với chúng. Nhưng điều đó lại có tác dụng phóng đại mối nguy hiểm hiện có. Và như vậy, một mô hình quen thuộc xuất hiện – căng thẳng bị kích hoạt, lan từ người này sang người khác, làm tăng tạm thời khả năng mọi người tiếp nhận các bản tin tiêu cực, từ đó khiến mức độ căng thẳng tăng thêm. Kết quả là, các chuyến đi bị hủy bỏ, dù thảm họa xảy ra ở phía bên kia địa cầu; cổ phiếu bị bán ra, dù việc giữ lại mới là điều nên làm.

12. (Q40) The good news, however, is that positive emotions, such as hope, are contagious too, and are powerful in inducing people to act to find solutions. Being aware of the information can help us frame our messages more effectively and become conscientious agents of change.

Tuy nhiên, tin tốt là cảm xúc tích cực như hy vọng cũng có khả năng lan truyền, và có sức mạnh trong việc thúc đẩy con người hành động để tìm ra giải pháp. Việc nhận thức được thông tin có thể giúp chúng ta định hình thông điệp một cách hiệu quả hơn và trở thành những tác nhân thay đổi có trách nhiệm.

Answer analysis

Phân tích đáp án Cambridge 20 Reading Test 1

Đáp án được đối chiếu trực tiếp với bảng đáp án trong nguồn bài đọc.

Passage 1 · Câu 1–13

1FALSE

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

2FALSE

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

3FALSE

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

4NOT GIVEN

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

5TRUE

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

6TRUE

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

7bulbs

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

8soil

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

9feathers

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

10deer

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

111980

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

12funding

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

13stakeholders

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

Passage 2 · Câu 14–26

14C

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

15G

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

16B

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

17E

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

18C

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

19B

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

20A

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

21B

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

22C

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

23A

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

24oak

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

25flooring

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

26keel

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

Passage 3 · Câu 27–40

27C

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

28A

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

29D

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

30C

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

31B

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

32G

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

33F

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

34E

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

35D

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

36YES

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

37NOT GIVEN

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

38NO

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

39YES

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

40YES

Đáp án được đối chiếu với bảng đáp án của đề nguồn.

web giải đề ielts
Tìm hiểu ngay
Bài viết tương tự
Luyện đề IELTS miễn phí
IELTS MOCK TEST LISTENING 11

IPU ACTIVE PRACTICE IELTS Listeningluyện tập chủ động Chọn phần muốn luyện và thời gian phù hợp. Sau khi nộp bài, bạn có thể xem điểm và đối chiếu đáp án ngay trên trang. 01Chọn Part02Nghe & làm bài03Chấm & xem đáp án Thiết lập bài luyện Bài gồm 4 Part, tổng cộng 40 câu. Part 1 · 1–10Part 2 · 11–20Part 3 · 21–30Part 4 · 31–40 Thời gian làm bài 10′20′30′40′ Bắt đầu làm bài → Audio được để trống để bạn tự tải lên và thay đường dẫn sau. IELTS Listening Mock 740 questions A−A+ 🎧 AudioYour browser does not support audio. Điểm của bạn 0/40 Xem đáp ánLàm lại PART 1 QUESTIONS 1 – 10 Questions 1 – 10 Complete the notes below. Write ONE WORD AND/OR A NUMBER in each gap.                                  A conversation about a new school General comment: better than the old school Teachers: – (1)  is a nice person                              HEADMASTER                                                                  – others are more likely to be decent. The French teacher seems to be more native than the (2)  accent SMITH                                        – the school principal's talk mentioned to:                   + (3)  (studying enjoyment, working hard of students) EDUCATION                                        + other things on how to (4)   a good shape,  KEEP                                    which helps you have a better (5)  MOOD Fitness centre:         – the (6)   is bigger than the one at old school POOL                                           – the gym includes everything, i.e., cycling and (7)  machines ROWING Other issues:                  – filming the teachers and students' interviews for their (8) , ARTICLE                               and video project at the main (9)  HALL                                          – they saw Mr. Clark as their former teacher of (10)  subject MUSIC PART 2 QUESTIONS 11 – 20 Questions 11 – 15 Choose the correct letters, A, B or C.                                               London Parks' Introduction 11. What is the first thing that tourists are going to experience at the London Parks Society? enjoying coffee and biscuits during brief history talking listening to a brief talk about the history of some wonderful attractions seeing some famous royal parks in London q12-hide 12. What is True about the "royal park" being built in London? it has a harmonious natural landscape. it was built by members of the royal family. it is replicated all over the UK. q13-hide 13. The Hyde Park is the most famous park in London that covers all of the finest sceneries in London. an area of about 260 hectares and a circumference of 6.5 km. 613 acres, with a 4-mile perimeter. q14-hide 14. The Hyde Park began to construct in 1820s and its design was done by Decimus Burton. in 1536 after King Henry VIII occupied the land from the monks. from 1500s and finished in 1800s. q15-hide 15. The Crystal Palace was  constructed on the Hyde Park site in 1851. used for the Great Exhibition in 1968. used for the Rolling Stones concert in 2010. q16-hide Questions 16 – 20 Which sites in the London Parks Society are suitable for the following descriptions? Choose FIVE answers from the box and write the correct letter, A-G, next to the Questions 16-20. Descriptions of attractive sites: A     the largest park in the UK B     followed Greek architectural design C     the most ancient park of the Royal D     the largest area for outdoor activities E     included the oldest fountain F     located near the Serpentine Lake G    situated in the centre of London List of attractive sites: 16. Grand Entrance: ABCDEFG B 17. Princess of Wales: ABCDEFG F 18. Regent's Park: ABCDEFG D 19. St. James's Park: ABCDEFG G 20. Greenwich Park: ABCDEFG C PART 3 QUESTIONS 21 – 30 Questions 21 – 30 Complete the notes below. Write ONE WORD ONLY in each gap.                                                Video Project on Student Life Enjoyments:    – using the camera (Cristina) – going to a British (21)  HOME Enjoyments:      – contact with students doing other courses by asking some  (Ibrahim)  to have (22)  DINNER Language practice: – listening to instructions (Cristina) – learning (23)  words                                  TECHNICAL Language practice: listening to British students' language because of:                                        (Ibrahim) – normal speed   – a lot of (24)  SLANG Usefulness:     – operating video camera (Cristina) – working with other people:      + learning about (25)  COOPERATING                                     + compromising         + (26)  people who have different views PERSUADING Usefulness:       (Ibrahim) – the importance of (27)  EDITING Future works​:                (Cristina) – decide when

Read More »