Bảng đáp án Cambridge IELTS 13 Reading Test 4
| 1. False | 11. gale | 21. D | 31. B |
| 2. False | 12. training | 22. E | 32. G |
| 3. True | 13. fire | 23. C | 33. E |
| 4. True | 14. minerals | 24. F | 34. A |
| 5. False | 15. carbon | 25. G | 35. Yes |
| 6. True | 16. water | 26. F | 36. Not Given |
| 7. Not Given | 17. agriculture | 27. D | 37. No |
| 8. True | 18. C | 28. A | 38. Not Given |
| 9. wool | 19. E | 29. B | 39. Yes |
| 10. navigator | 20. A | 30. F | 40. No |
Cambridge 13 Test 4 Passage 1: Cutty Sark: the fastest sailing ship of all time
A. The nineteenth century was a period of great technological development in Britain, and for shipping the major changes were from wind to steam power, and from wood to iron and steel. (Q1) The fastest commercial sailing vessels of all time were clippers, three-masted ships huilt to transport goods around the world, although some also took passengers. From the l 840s until 1869, when the Suez Canal opened and steam propulsion was replacing sail, clippers dominated world trade. Although many were built, only one has survived more or less intact: Cutty’ Sark. now on display in Greenwich, southeast London.
Thế kỉ 19 là thời kỳ công nghệ phát triển mạnh mẽ tại nước Anh, ghi nhận những thay đổi lớn từ năng lượng gió sang hơi nước, từ gỗ sang sắt, thép. Thuyền cao tốc là loại thuyền buồm thương mại nhanh nhất mọi thời đại. Với ba cánh buồm, những chiếc thuyền này được đóng nhằm mục đích vận chuyển hàng hóa đi khắp thế giới, dù một số tàu có kiêm việc chở khách. Từ những năm 1840 cho tới 1869, khi kênh đào Suez được mở ra và động cơ hơi nước dần thay thế những cánh buồm, thuyền cao tốc vẫn luôn giữ vị trí thống trị đối với thương mại quốc tế. Dù nhiều chiếc đã được đóng trong khoảng thời gian này, con thuyền duy nhất còn tồn tại gần như nguyên vẹn cho tới ngày nay là Cutty Sark, hiện được trưng bày tại Greenwich, đông nam London.
B. Cutty Sark’s unusual name comes from the poem Tam O Shanter by the Scottish poet Robert Bums. (Q2) Tam, a farmer, is chased by a witch called Nannie, who is wearing a ‘cutty sark’ – an old Scottish name for a short nightdress. The witch is depicted in Cutty Sark’s figurehead – the carving of a woman typically at the front of old sailing ships. In legend, and in Bums’s poem, witches cannot cross water, so this was a rather strange choice of name for a ship.
Cái tên khác lạ của Cutty Sark bắt nguồn từ bài thơ Tam O Shanter của thi hào người Scotland, Robert Bums. Bác nông dân Tam bị đuổi bắt bởi mụ phù thủy Nannie mặc “cutty sark”, cách gọi cổ của dân Scotland cho váy ngủ ngắn. Mụ phù thủy được mô tả trong Cutty Sark chính là bức điêu khắc hình ảnh người phụ nữ đứng trước những chiếc thuyển buồm cũ. Trong truyền thuyết, và trong thơ của Bum, phù thủy không thể vượt biển. Vì thế đây là cái tên tương đối lạ đối với một con tàu.
C. Cutty Sark was built in Dumbarton, Scotland, in 1869 for a shipping company owned by John Willis. (Q3) To carry out construction, Willis chose a new shipbuilding firm, Scott & Linton, and ensured that the contract with them put him in a very strong position. In the end, the firm was forced out of business, and the ship was finished by a competitor.
Cutty Sark được đóng tại Dumbarton, Scotland, vào năm 1869, cho một công ty vận chuyển hàng hải thuộc sở hữu của John Willis. Willis đã lựa chọn hãng đóng tàu mới Scott & Linton để tiến hành đóng chiếc thuyền, đảm bảo rằng hợp đồng với hãng này cho phép ông ta giữ một vị thế hết sức vững chắc. Kết quả là, hãng phá sản và con tàu được hoàn thiện bởi đối thủ cạnh tranh.
D. (Q4) Willis’s company was active in the tea trade between China and Britain, where speed could bring ship owners both profits and prestige, so Cutty Sark was designed to make the journey more quickly than any other ship. On her maiden voyage, in 1870, she set sail from London, carrying large amounts of goods to China. She returned laden with tea, making the journey back to London in four months. However, Cutty Sark never lived up to the high expectations of her owner, as a result of bad winds and various misfortunes. On one occasion, in 1872. the ship and a rival clipper, Thermopylae, left port in China on the same day. Crossing the Indian Ocean, Cutty Sark gained a lead of over 400 miles, but then her rudder was severely damaged in stormy seas, making her impossible to steer. The ship’s crew had the daunting task of repairing the rudder at sea. and only succeeded at the second attempt. (Q5) Cutty Sark reached London a week after Thermopylae.
Công ty của Willis hoạt động trong lĩnh vực thương mại trà giữa Trung Quốc và Anh, nơi mà tốc độ có thể đem lại cho chủ tàu cả lời lãi lẫn danh vọng. Đó là lý do Cutty Sark đã được thiết kế để chạy nhanh hơn bất kỳ con tàu nào khác. Trong chuyến hành trình đầu tiên vào năm 1870, con thuyền rời bến tại London, mang theo lượng lớn hàng hóa tới Trung Quốc, để rồi quay lại 4 tháng sau đó với đầy trà. Tuy nhiên, Cutty Sark chưa bao giờ thỏa mãn được kỳ vọng của ông chủ do vấn đề tồi tệ liên quan tới gió và vô vàn những điều không may khác. Vào một dịp năm 1872, con tàu rời khỏi bến cảng tại Trung Quốc cùng ngày với chiếc thuyền đối thủ Thermopylae. Băng qua Ấn Độ Dương, Cutty Sark vượt lên trước hơn 400 dặm, nhưng sau đó bánh lái bị hỏng do bão khiến con thuyền mất khống chế. Thủy thủ đoàn đã gánh lấy trách nhiệm nặng nề khi buộc phải sửa chữa bánh lái ngay trên biển, và chỉ thành công khi thử đến lần thứ 2. Cutty Sark cập cảng muộn 1 tuần so với Thermopylae.
E. Steam ships posed a growing threat to clippers, as their speed and cargo capacity increased. In addition, the opening of the Suez Canal in 1869, the same year that Cutty Sark was launched, had a serious impact. (Q6) While steam ships could make use of the quick, direct route between the Mediterranean and the Red Sea, the canal was of no use to sailing ships, which needed the much stronger winds of the oceans, and so had to sail a far greater distance. Steam ships reduced the journey time between Britain and China by approximately two months.
Tàu hơi nước trở thành mối đe dọa ngày càng lớn đối với tàu cao tốc nhờ có sự tăng lên về cả tốc độ và lượng hàng hoá có thể vận chuyển. Ngoài ra, việc mở kênh đào Suez vào năm 1869, cùng với năm mà Cutty Sark được hạ thủy, đã có một tác động vô cùng lớn. Trong khi những con tàu hơi nước có thể tận dụng tuyến đường nhanh và trực tiếp từ Địa Trung Hải và vùng Biển Đỏ thì thuyền buồm lại không thể sử dụng kênh đào này. Chúng cần luồng gió mạnh của đại dương, và vì vậy phải di chuyển một quãng đường xa hơn rất nhiều. Tàu hơi nước đã giảm thời gian của chuyến đi giữa Anh và Trung Quốc gần 2 tháng.
F. By 1878, tea traders weren’t interested in Cutty Sark, and instead, she took on the much less prestigious work of carrying any cargo between any two ports in the world. In 1880, violence aboard the ship led ultimately to the replacement of the captain with an incompetent drunkard who stole the crew’s wages. He was suspended from service, and a new captain appointed. (Q9) This marked a turnaround and the beginning of the most successful period in Cutty Sark’s working life, transporting wool from Australia to Britain. One such journey took just under 12 weeks, beating every other ship sailing that year by around a month.
Vào năm 1878, những thương nhân buôn trà mất đi hứng thú đối với Cutty Sark. Thay vào đó, con tàu phải làm công việc kém hấp dẫn hơn – vận chuyển bất kì loại hàng hóa nào giữa hai cảng trên thế giới. Năm 1880, một cuộc bạo động trên tàu đã dẫn đến việc thay thế vị thuyền trưởng luôn say xỉn, thiếu năng lực và lấy trộm lương của thủy thủ đoàn. Ông ta bị buộc ngừng công việc và một vị thuyền trưởng mới được bổ nhiệm. Điều này đã đánh dấu một bướt ngoặt và sự khởi đầu của thời kỳ thành công nhất trong cuộc đời vận chuyển của Cutty Sark – vận chuyển len từ Úc sang Anh. Một chuyến đi như vậy chỉ mất dưới 12 tuần, nhanh hơn tất cả con thuyền buồm khác vào thời điểm đó khoảng 1 tháng.
G. (Q10) The ship’s next captain, Richard Woodget, was an excellent navigator, who got the best out of both his ship and his crew. As a sailing ship, Cutty Sark depended on the strong trade winds of the southern hemisphere, and (Q8) Woodget took her further south than any previous captain, bringing her dangerously close to icebergs off the southern tip of South America. His gamble paid off, though, and the ship was the fastest vessel in the wool trade for ten years.
Thuyền trưởng mới, Richard Woodget, là một hoa tiêu tuyện vời, có khả năng phát huy tối đa sức mạnh của con tàu và năng lực của thủy thủ đoàn. Là một chiếc thuyền buồm, Cutty Sark phụ thuộc vào những cơn gió mậu dịch ở nam bán cầu. Woodget đã đưa con thuyền xuôi về hướng nam xa hơn bất kỳ thuyền trưởng nào trước đây, đến gần các tảng băng trôi ở mũi nam của Nam Mỹ tới độ nguy hiểm. Sự mạo hiểm của ông đã được đền đáp xứng đáng. Con thuyền đã trở thành chiếc tàu cao tốc nhanh nhất trong lĩnh vực buôn bán len trong suốt 10 năm.
G. (Q10) The ship’s next captain, Richard Woodget, was an excellent navigator, who got the best out of both his ship and his crew. As a sailing ship, Cutty Sark depended on the strong trade winds of the southern hemisphere, and (Q8) Woodget took her further south than any previous captain, bringing her dangerously close to icebergs off the southern tip of South America. His gamble paid off, though, and the ship was the fastest vessel in the wool trade for ten years.
Thuyền trưởng mới, Richard Woodget, là một hoa tiêu tuyện vời, có khả năng phát huy tối đa sức mạnh của con tàu và năng lực của thủy thủ đoàn. Là một chiếc thuyền buồm, Cutty Sark phụ thuộc vào những cơn gió mậu dịch ở nam bán cầu. Woodget đã đưa con thuyền xuôi về hướng nam xa hơn bất kỳ thuyền trưởng nào trước đây, đến gần các tảng băng trôi ở mũi nam của Nam Mỹ tới độ nguy hiểm. Sự mạo hiểm của ông đã được đền đáp xứng đáng. Con thuyền đã trở thành chiếc tàu cao tốc nhanh nhất trong lĩnh vực buôn bán len trong suốt 10 năm.
H. As competition from steam ships increased in the 1890s, and Cutty Sark approached the end of her life expectancy, she became less profitable. She was sold to a Portuguese firm, which renamed her Ferreira. For the next 25 years, she again carried miscellaneous cargoes around the world.
Khi cuộc cạnh tranh với tàu hơi nước trở nên khốc liệt hơn vào những năm 1890 và Cutty Sark đã đi gần hết tuổi thọ, con thuyền không còn sinh lời nhiều như trước nữa. Con tàu được bán cho một công ty Bồ Đào Nha, và được đổi tên thành Ferreira. 25 năm sau đó, con thuyền tiếp tục chở các hàng hóa khác nhau đi khắp thế giới.
I. (Q11) Badly damaged in a gale in 1922, she was put into Falmouth harbour in southwest England, for repairs. Wilfred Dow man, a retired sea captain who owned a training vessel, recognised her and tried to buy her, but without success. She returned to Portugal and was sold to another Portuguese company. Dowman was determined, however, and offered a high price: this was accepted, and the ship returned to Falmouth the following year and had her original name restored.
Sau khi bị hư hại nghiêm trọng trong một trận bão năm 1922, con tàu được đưa vào cảng Falmouth ở vùng tây nam nước Anh để sửa chữa. Wilfred Dowman, một thuyền trưởng đã về hưu, người sở hữu một con tàu huấn luyện, đã nhận ra và cố mua nó nhưng không thành công. Con tàu quay lại Bồ Đào Nha và bị bán cho một công ty Bồ Đào Nha khác. Tuy nhiên, Dowman rất quyết tâm. Ông ta đưa ra một mức giá cao và được chấp nhận. Con thuyền được đưa về Falmouth vào năm sau và được đặt lại tên cũ ban đầu của mình.
K. (Q12) Dowman used Cutty Sark as a training ship, and she continued in this role after his death. When she was no longer required, in 1954, she was transferred to dry dock at Greenwich to go on public display. (Q13) The ship suffered from fire in 2007, and again, less seriously, in 2014. But now Cutty Sark attracts a quarter of a million visitors a year.
Dowman đã sử dụng Cutty Sark như tàu huấn luyện, và con thuyền vẫn tiếp tục vai trò này sau khi ông qua đời. Khi con tàu không còn được cần đến nữa, vào năm 1954, nó được chuyển đến xưởng cạn tại Greenwich để tiếp tục trưng bày công khai. Con thuyền đã gặp hỏa hoạn vào năm 2007, và thêm một lần nữa ít nghiêm trọng hơn vào năm 2014. Cutty Sark hiện thu hút được một phần tư triệu lượt khách mỗi năm.
Cambridge 13 Test 4 Passage 2: Saving the soil
A. More than a third of the world’s soil is endangered, according to a recent UN report. If we don’t slow the decline, all farmable soil could be gone in 60 years. Since soil grows 95% of our food, and sustains human life in other more surprising ways, that is a huge problem.
Theo báo cáo gần đây của UN (Liên hợp quốc), hơn 1/3 đất trên thế giới đang bị đe dọa. Nếu chúng ta không làm chậm sự suy giảm này, tất cả đất trồng trọt sẽ biến mất trong vòng 60 năm tới. Do đất nuôi dưỡng 95% thức ăn, và giúp duy trì sự sống của con người theo những hình thức đáng kinh ngạc khác nữa nên đây là vấn đề rất quan trọng.
B. Peter Groffman, from the Cary Institute of Ecosystem Studies in New York, points out that soil scientists have been warning about the degradation of the world’s soil for decades. At the same time, our understanding of its importance to humans has grown. (Q14) A single gram of healthy soil might contain 100 million bacteria, as well as other microorganisms such as viruses and fungi, living amid decomposing plants and various minerals.
That means soils do not just grow our food, but are the source of nearly all our existing antibiotics, and could be our best hope in the fight against antibiotic-resistant bacteria. (Q15) Soil is also an ally against climate change: as microorganisms within soil digest dead animals and plants, they lock in their carbon content, holding three times the amount of carbon as does the entire atmosphere. (Q16) Soils also store water, preventing flood damage: in the UK, damage to buildings, roads and bridges from floods caused by soil degradation costs £233 million every year.
Peter Groffman từ Viện nghiên cứu sinh thái Cary ở New York chỉ ra rằng những nhà khoa học về đất đã cảnh báo về tình trạng suy thoái đất trên toàn thế giới suốt nhiều thập kỉ. Cùng lúc đó, vốn hiểu biết của chúng ta về tầm quan trọng của đất với con người đã cải thiện. Mỗi một gram đất màu mỡ có thể chứa 100 triệu con vi khuẩn, và những loại vi sinh vật khác nữa như vi-rút và nấm, sống ở những cây đang phân hủy và hàng loạt các loại khoáng chất khác.
Điều đó có nghĩa là đất không chỉ cung cấp cho chúng ta thức ăn, mà nó gần như là những nguồn kháng sinh hiện hữu của chúng ta và có thể là hi vọng lớn nhất trong cuộc chiến chống lại vi khuẩn kháng kháng sinh. Đất cũng là một đồng minh chống lại thay đổi khí hậu: khi các vi sinh vật trong đất hấp thụ xác động thực vật, chúng giữ lại lượng khí carbon nhiều gấp ba lần lượng carbon có trong khí quyển. Đất cũng có thể trữ nước, ngăn sự phá hoại của lũ: ở Mỹ, thiệt hại gây ra cho những tòa nhà, đường xá, những cây cầu mà lũ gây ra do suy thoái đất là £233 triệu mỗi năm.
C. If the soil loses its ability to perform these functions, the human race could be in big trouble. The danger is not that the soil will disappear completely, but that the microorganisms that give it its special properties will be lost. And once this has happened, it may take the soil thousands of years to recover. (Q17) Agriculture is by far the biggest problem. (Q23) In the wild, when plants grow they remove nutrients from the soil, but then when the plants die and decay these nutrients are returned directly to the soil. (Q18) Humans tend not to return unused parts of harvested crops directly to the soil to enrich it, meaning that the soil gradually becomes less fertile. In the past we developed strategies to get around the problem, such as regularly varying the types of crops grown, or leaving fields uncultivated for a season.
Nếu đất đánh mất khả năng thực hiện những chức năng này, loài người có thể sẽ gặp rắc rối lớn. Điều nguy hiểm là không những đất sẽ hoàn toàn biến mất, mà những vi sinh vật với các đặc tính đặc biệt của chúng cũng sẽ bị mất đi. Và một khi điều này xảy ra, việc khôi phục đất có thể sẽ mất tới hàng ngàn năm. Tính đến thời điểm này, nông nghiệp là vấn đề lớn nhất. Trong tự nhiên, khi thực vật sinh trưởng, chúng hấp thụ chất dinh dưỡng từ đất, để rồi khi chúng chết đi và phân rã, những chất dinh dưỡng này sẽ trực tiếp quay về với đất. Con người có xu hướng không để lại những phần không dùng tới của các vụ thu hoạch nhằm tăng độ phì nhiêu của đất, điều này khiến sự màu mỡ của đất dần suy giảm. Trong quá khứ, chúng ta đã phát triển những chiến lược để giải quyết vấn đề này, như là thường xuyên thay đổi những loại cây trồng cho mùa vụ, hoặc để cho đất trống không trồng trọt canh tác trong một mùa.
D. But these practices became inconvenient as populations grew and agriculture had to be run on more commercial lines. A solution came in the early 20th century with the Haber-Bosch process for manufacturing ammonium nitrate. Farmers have been putting this synthetic fertiliser on their fields ever since. But over the past few decades, it wasn’t such a bright idea.n (Q19) Chemical fertilisers can release polluting nitrous oxide into the atmosphere and excess is often washed away with the rain, releasing nitrogen into rivers. More recently, we have found that indiscriminate use of fertilizers the soil itself, turning it acidic and salty, and degrading the soil they supposed to nourish.
Nhưng những phương pháp này đã trở nên bất tiện khi dân số tăng và nông nghiệp trải qua quá trình thương mại hóa. Một giải pháp đã được đề ra vào đầu thế kỉ 20, đưa quá trình Haber-Bosch vào sản xuất nitrate amoni. Nông dân đã ứng dụng loại phân bón tổng hợp này kể từ đó. Nhưng trong những thập kỷ qua, đây không phải là một ý tưởng hay. Phân bón hóa học có thể thải khí N2O vào khí quyển và lượng dư còn lại thường bị nước mưa cuốn đi, đưa N2 vào các dòng sông. Gần đây, chúng ta đã phát hiện ra rằng việc sử dụng phân bón bừa bãi đã làm biến đổi tính axit và độ mặn của đất, gây thoái hóa thay vì nuôi dưỡng đất.
E. (Q22) One of the people looking for a solution to this problem is Pius Floris, who started out running a tree-care business in the Netherlands and now advises some of the world’s top-soil scientists. He came to realise that the best way to ensure his trees flourished was to take care of the soil, and has developed a cocktail of beneficial bacteria, fungi and humus* to do this. Researchers at the University of Valladolid in Spain recently used this cocktail on soils destroyed by years of fertiliser overuse. (Q20) When they applied Floris’s mix to the desert-like test plots, a good crop of plants emerged that were not just healthy at the surface, but had roots strong enough to pierce dirt as hard as rock. The few plants that grew in the control plots, fed with traditional fertilisers, were small and weak.
Một trong những người đang tìm kiếm giải pháp cho vấn đề này là Pius Floris, ông ấy bắt đầu sự nghiệp bằng cách vận hành một công ty chăm sóc cây ở Hà Lan và bây giờ là cố vấn cho một vài nhà khoa học nổi tiếng về đất. Ông đã nhận ra rằng cách tốt nhất để đảm bảo cây trồng phát triển đó là chăm sóc đất, và ông cũng đã phát triển một cách kết hợp vi khuẩn có lợi, nấm và đất mùn để chăm sóc đất. Các nhà nghiên cứu tại trường đại học Valladolid ở Tây Ban Nha gần đây đã sử dụng phương thức này lên đất bị phá hủy bởi lạm dụng phân bón qua nhiều năm. Khi họ sử dụng hỗn hợp Floris lên những mẫu thử nghiệm ở sa mạc, một nhóm cây trồng đã sinh sôi nảy nở, chúng không chỉ khỏe trên bề mặt, mà rễ của chúng còn đủ khỏe để đâm qua loại đất cứng như đá. Một số ít cây được trồng trong vùng thí nghiệm kiểm soát bằng cách bón phân với những loại phân bón truyền thống thì lại nhỏ và yếu.
F. However, measures like this are not enough to solve the global soil degradation problem. (Q26) To assess our options on a global scale we first need an accurate picture of what types of soil are out there, and the problems they face. That’s not easy. For one thing, there is no agreed international system for classifying soil. In an attempt to unify the different approaches, the UN has created the Global Soil Map project. (Q24) Researchers from nine countries are working together to create a map linked to a database that can be fed measurements from field surveys, drone surveys, satellite imagery, lab analyses and so on to provide real-time data on the state of the soil. Within the next four years, they aim to have mapped soils worldwide to a depth of 100 metres, with the results freely accessible to all.
Tuy nhiên, những phương pháp như vậy không đủ để giải quyết vấn đề thoái hóa đất trên thế giới. Để đánh giá các lựa chọn trên phạm vi toàn cầu, trước hết ta cần một cách nhìn toàn cảnh chính xác về các loại đất, và những vấn đề mà chúng đang đối mặt. Điều này không dễ dàng tí nào. Có một vấn đề là, không có bất cứ hệ thống quốc tế thống nhất nào cho việc phân loại đất. Trong nỗ lực nhằm thống nhất những phương pháp tiếp cận khác nhau, Liên hợp quốc đã lập nên dự án the Global Soil Map (Bản đồ đất toàn cầu). Các nhà nghiên cứu từ 9 quốc gia đang cùng nhau làm việc để tạo nên một bản đồ liên kiết với cơ sở dữ liệu chung chứa những số liệu đo lường từ khảo sát thực địa, hình ảnh từ máy bay không người lái, hình ảnh vệ tinh, phòng phân tích-thí nghiệm,… nhằm cung cấp dữ liệu thời gian thực về trạng thái của đất.Trong vòng 4 năm tới, họ nhắm tới việc thiết lập bản đồ đất toàn cầu tới độ sâu 100m mà mọi người có thể truy cập miễn phí.
G. But this is only a first step. (Q21) We need ways of presenting the problem that bring it home to governments and the wider public, says Pamela Chasek at the International Institute for Sustainable Development, in Winnipeg, Canada. ‘Most scientists don’t speak language that policy-makers can understand and vice versa.’ (Q25) Chasek and her colleagues have proposed a goal of ‘zero net land degradation’.
Like the idea of carbon neutrality, it is an easily understood target that can help shape expectations and encourage action.
For soils on the brink, that may be too late. Several researchers are agitating for the immediate creation of protected zones for endangered soils. One difficulty here is defining what these areas should conserve: areas where the greatest soil diversity is present? Or areas of unspoilt soils that could act as a future benchmark of quality.
Whatever we do, if we want our soils to survive, we need to take action now.
Nhưng đây chỉ là bước đầu tiên. Pamela Chasek phát biểu tại học viện quốc tế về phát triển bền vững ở Winnipeg, Canada: “Chúng ta cần trình bày sao cho vấn đề này có thể đến được với chính phủ và cộng đồng. Hầu hết những nhà khoa học và những nhà làm chính trị không thể hiểu được nhau”. Chasek và các đồng nghiệp của cô đã đề xuất mục tiêu ‘không còn thoái hóa đất’.
Giống như ý tưởng về tính trung lập của carbon, đây là một mục tiêu dễ hiểu, có khả năng giúp định hình các kỳ vọng và khuyến khích hành động.
Với những loại đất trên bờ vực của việc thoái hoá, điều này có thể là quá muộn. Một số nhà nghiên cứu đang vận động xây dựng ngay các khu bảo tồn cho các loại đất có nguy cơ tuyệt chủng. Khó khăn ở đây nằm ở việc nhận diện những khu vực cần bảo tồn: những khu vực đa dạng nhất về đất? Hoặc các khu vực đất hoang sơ có khả năng trở thành tiêu chuẩn chất lượng trong tương lai.
Bất kể là việc gì, nếu chúng ta muốn cứu sống đất, chúng ta cần phải hành động ngay lúc này.
Cambridge 13 Test 4 Passage 3: Book review
A. Happiness is the ultimate goal because it is self-evidently good. If we are asked why happiness matters we can give no further external reason. It just obviously does matter.’ This pronouncement by Richard Layard, an economist and advocate of ‘positive psychology’ summarises the beliefs of many people today. For Layard and others like him, it is obvious that the purpose of government is to promote a state of collective well-being. The only question is how to achieve it, and here positive psychology a supposed science that not only identifies what makes people happy but also allows their happiness to be measured can show the way. Equipped with this science, they say, governments can secure happiness in society in a way they never could in the past.
‘Hạnh phúc là mục tiêu tối quan trọng bởi vì nó hiển nhiên là điều tốt. Nếu chúng ta được hỏi tại sao hạnh phúc lại quan trọng, chúng ta không thể đưa ra thêm lý do bên ngoài nào. Chỉ là rõ ràng nó quan trọng.” Tuyên bố này của Richard Layard, một nhà kinh tế và người ủng hộ ‘tâm lý tích cực’ tóm tắt niềm tin của nhiều người ngày nay. Đối với Layard và những người như ông, rõ ràng mục đích của chính phủ là thúc đẩy một trạng thái tập thể hạnh phúc. Câu hỏi duy nhất là làm thế nào để đạt được nó, và ở đây thì tâm lý tích cực, được cho là một lĩnh vực khoa học, không chỉ xác định điều khiến cho mọi người hạnh phúc mà còn đo lường được hạnh phúc của họ. Người ta cho rằng, các chính phủ áp dụng được lĩnh vực khoa học này có thể bảo đảm hạnh phúc trong xã hội theo cách mà họ chưa bao giờ có thể làm trong quá khứ.
B. It is an astonishingly crude and simple-minded way of thinking, and for that very reason increasingly popular. (Q27) Those who think in this way are oblivious to the vast philosophical literature in which the meaning and value of happiness have been explored and questioned, and write as if nothing of any importance had been thought on the subject until it came to their attention. It was the philosopher Jeremy Bentham (1748—1832) who was more than anyone else responsible for the development of this way of thinking. For Bentham it was obvious that the human good consists of pleasure and the absence of pain. (Q28) The Greek philosopher Aristotle may have identified happiness with self-realisation in the 4th century BC, and thinkers throughout the ages may have struggled to reconcile the pursuit of happiness with other human values, but for Bentham all this was mere metaphysics or fiction. Without knowing anything much of him or the school of moral theory he established — since they are by education and intellectual conviction illiterate in the history of ideas — our advocates of positive psychology follow in his tracks in rejecting as outmoded and irrelevant pretty much the entirety of ethical reflection on human happiness to date.
Đó là một cách suy nghĩ cực kì thô lỗ và đơn giản, và vì lẽ đó cái lí do đơn giản này ngày càng phổ biến. Những người nghĩ theo cách này không biết gì về văn học triết học rộng lớn, trong đó ý nghĩa và giá trị của hạnh phúc đã được khám phá và được nghi vấn, và viết như thể chủ đề này không có gì quan trọng cho đến khi họ chú ý. Nhà triết học Jeremy Bentham (1748–1832) là người hơn bất cứ ai chịu trách nhiệm cho sự phát triển của lối tư duy này. Đối với Bentham, rõ ràng là điều tốt đẹp của con người bao gồm niềm vui và không có đau đớn. Nhà triết học Hy Lạp Aristotle có thể đã xác định hạnh phúc với sự tự nhận thức vào thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên, và các nhà tư tưởng trong suốt thời đại có thể phải vật lộn để hòa hợp việc theo đuổi hạnh phúc với các giá trị khác của con người, nhưng đối với Bentham, đây chỉ là lý thuyết suông hay hư cấu. Không biết gì nhiều về Bentham hay trường phái lý thuyết đạo đức ông ấy đã thiết lập – bởi chúng được truyền lại bởi giáo dục và niềm tin trí tuệ mù chữ trong lịch sử tư tưởng – những người ủng hộ tâm lý tích cực phủ định lối tư duy của ông vì gần như toàn bộ phản ánh đạo đức về hạnh phúc của con người cho đến nay đã lỗi thời và không liên quan.
C. But as William Davies notes in his recent book The Happiness Industry, the view that happiness is the only self-evident good is actually a way of limiting moral inquiry. One of the virtues of this rich, lucid and arresting book is that it places the current cult of happiness in a well-defined historical framework. Rightly, Davies begins his story with Bentham, noting that he was far more than a philosopher. Davies writes, ‘Bentham’s activities were those which we might now associate with a public sector management consultant’. (Q30) In the 1790s, he wrote to the Home Office suggesting that the departments of government be linked together through a set of ‘conversation tubes’, and (Q31 + 32) to the Bank of England with a design for a printing device that could produce unforgeable banknotes. He drew up plans for a “frigidarium” to keep provisions such as meat, fish, fruit and vegetables fresh. (Q33) He celebrated design for a prison to be known as “panoptican”, in which prisoners would be kept in solitary confinement while being visible at all time to the guards, was very nearly adopted. (Surprisingly, Davies does not discuss the fact that Bentham meant his Panoptican not just as a model prison but also as an instrument of control that could be applied to schools and factories.)
Nhưng như William Davies đã lưu ý trong cuốn sách gần đây của ông, The Happiness Industry, quan điểm cho rằng hạnh phúc hiển nhiên là điều tốt thực sự là một cách hạn chế yêu cầu đạo đức. Một trong những ưu điểm của cuốn sách phong phú, sáng suốt và cuốn hút này là nó đặt sự sùng bái hạnh phúc hiện tại trong một khuôn khổ lịch sử được xác định rõ ràng. Đúng vậy, Davies bắt đầu câu chuyện của mình với Bentham, lưu ý rằng ông ấy còn hơn cả một nhà triết học. Davies viết, ‘Các hoạt động của Bentham là những hoạt động mà chúng ta có thể liên tưởng tới một nhà tư vấn quản lý khu vực công’. Vào những năm 1790, ông đã viết cho Home Office gợi ý rằng các phòng ban của chính phủ nên được liên kết với nhau thông qua một bộ ‘ống hội thoại’ và gợi ý cho Ngân hàng Anh với thiết kế cho một thiết bị in có thể sản xuất tiền giấy không thể làm giả được. Ông vẽ ra các kế hoạch cho “frigidarium” để dự trữ thực phẩm như thịt, cá, trái cây và rau quả tươi. Ông đã cử hành thiết kế cho một nhà tù được biết đến là “panoptican”, trong đó tù nhân sẽ bị giam giữ một mình trong khi được quản ngục theo dõi mọi lúc, đã gần như được chấp nhận. (Đáng ngạc nhiên, Davies không thảo luận về việc Bentham cho rằng Panoptican của ông không chỉ là một nhà tù kiểu mẫu mà còn là một công cụ kiểm soát có thể áp dụng cho các trường học và nhà máy).
D. Bentham was also a pioneer of the “science of hapiness”. (Q34/36) If hapiness is to be regared as a science, it has to be measured, and Bentham suggested two ways in which it might be done. Viewing hapiness as a complex of pleasurable sensations, he suggested that it might be quantified by measuring the human pulse rate. Alternatively, money could be used as the standard for quantification: if two different goods have the same price, it can be claimed that they produce the same quantity of pleasure in the consumer. Bentham was more attracted by the latter measure. (Q29) By associating the money so closely to inner experience, Davies writes, Bentham “set the stage for the entangling of psychological research and capitalism that would shape the business practices of the twentieth century“.
Bentham cũng là người tiên phong của “khoa học về hạnh phúc”. Nếu hạnh phúc được coi là khoa học, nó phải được đong đếm, và Bentham đề nghị hai cách mà có thể thực hiện được điều này. Coi hạnh phúc là một phức hợp của các cảm giác hài lòng, ông cho rằng nó có thể được định lượng bằng cách đo nhịp tim của con người. Ngoài ra, tiền có thể được sử dụng làm tiêu chuẩn để định lượng: nếu hai hàng hóa khác nhau có cùng một mức giá, có thể khẳng định rằng chúng tạo ra cùng một lượng niềm vui trong người tiêu dùng. Bentham bị thu hút bởi biện pháp thứ hai hơn. Davies viết bằng cách liên hệ chặt chẽ tiền với trải nghiệm từ tâm, Bentham “đã thiết lập một nền tảng phức tạp về nghiên cứu tâm lý và chủ nghĩa tư bản, những điều sẽ định hình các hoạt động kinh doanh của thế kỷ XX”
E. (Q35) The Happiness Industry describes how the project of a science of happiness has become integral to capitalism. We learn much that is interesting about how economic problems are being redefined and treated as psychological maladies. In addition, Davies shows how the belief that the inner states of pleasure and displeasure can be objectively measured has informed managment studies and advertising. The tendency of thinkers such as J B Watson, the founder of behaviourism*, was that human beings can be shaped, or manipulated, by policymakers or managers. Watson has no factual basis for his view of human action. (Q37) When he became the president of the American Psychological Association in 1915, he “had never even studied a single human being”: his research had been confined to experiments on white rats. (Q38) Yet Watson’s reductive model now is widely applied, with “behaviour change” becoming the goal of governments: in Britain, a “Behaviour Insights Team” has been established by the government to study how people can be encouraged, in minimum cost to the public purse, to live in what are considered socially desirable ways.
Quyển The Happiness Industry miêu tả cách dự án khoa học về hạnh phúc đã trở nên không thể thiếu đối với chủ nghĩa tư bản. Chúng tôi tìm hiểu nhiều điều thú vị về cách các vấn đề về kinh tế đang được định nghĩa lại và được điều trị như chứng bệnh về tâm lý. Thêm vào đó, Davies chỉ ra cách các trạng thái bên trong của niềm vui và sự không hài lòng có thể được đo lường khách quan đã cung cấp thêm thông tin cho các nghiên cứu quản lý và quảng cáo. Xu hướng của các nhà tư tưởng như J B Watson, người sáng lập chủ nghĩa hình vi*, là con người có thể được định hình, hoặc bị thao túng bởi các nhà hoạch định chính sách hay người quản lý. Watson không có cơ sở thực tế cho quan điểm của ông về hành vi của con người. Khi ông trở thành chủ tịch của Hiệp hội tâm lý Mỹ năm 1915, ông “chưa bao giờ nghiên cứu trên một cá thể người nào”: nghiên cứu của ông đã được giới hạn trong các thí nghiệm trên chuột trắng. Tuy nhiên, mô hình thu gọn của Watson giờ đây được áp dụng rộng rãi, với “thay đổi hành vi” trở thành mục tiêu của chính phủ: ở Anh, “Tổ chức nghiên cứu hành vi” đã được chính phủ thiết lập để nghiên cứu cách khuyến khích mọi người, mà tốn ít tiền của chính phủ nhất, sống trong những gì được coi là cách xã hội mong muốn.
F. (Q39) Modern industrial societies appear to need the possibility of ever-increasing happiness to motivate them in their labour. But whatever its intellectual pedigree, (Q40) the ideal that the governments should be responsible for promoting happiness is always a threat to human freedom.
Xã hội công nghiệp hiện đại dường như mong muốn con người có thể ngày càng trở nên hạnh phúc để thúc giục, truyền động lực trong lao động. Nhưng dù bất kể phả hệ trí tuệ như nào, việc chính phủ chịu trách nhiệm nâng cao sự hạnh phúc của người dân luôn là một sự đe doạ với tự do con người.
Hướng dẫn phân tích đáp án Cambridge 13 Reading Test 4
Đừng chỉ nhìn đáp án đúng. Hãy chú ý từ khóa, vị trí thông tin và cách đề thay đổi cách diễn đạt so với bài đọc.
Passage 1: Cutty Sark – the fastest sailing ship of all time
Clipper được đóng chủ yếu để chở hàng hóa, dù một số tàu cũng chở khách. Vì vậy nói chúng ban đầu được dùng làm tàu khách là sai: False.
“Cutty sark” là tên gọi cổ của một chiếc váy ngủ ngắn mà nhân vật phù thủy mặc, không phải tên nhân vật. Chọn False.
Hợp đồng đặt John Willis vào “a very strong position”, tức mang lợi thế cho ông so với Scott & Linton. Nhận định đúng: True.
Willis muốn tàu thực hiện hành trình trà giữa Trung Quốc và Anh nhanh hơn bất kỳ tàu nào khác. Ý này khớp hoàn toàn nên chọn True.
Cutty Sark bị hỏng bánh lái và về London sau Thermopylae, không phải đánh bại đối thủ. Nhận định trái bài nên chọn False.
Kênh Suez tạo tuyến ngắn hơn cho tàu hơi nước, trong khi tàu buồm không tận dụng được tuyến này. Nhờ đó tàu hơi nước đi nhanh hơn: True.
Bài giải thích lợi thế tuyến đường của tàu hơi nước nhưng không cho biết chúng có đôi khi đi tuyến đại dương hay không. Chọn Not Given.
Woodget chủ động đưa tàu đi rất xa về phía nam, gần vùng băng để tận dụng gió mạnh. Điều này đặt tàu trước nguy cơ va băng nên chọn True.
Giai đoạn thành công nhất sau năm 1880, Cutty Sark chủ yếu vận chuyển wool từ Australia.
Woodget được đánh giá vừa là thuyền trưởng vừa là một navigator xuất sắc.
Khi mang tên Ferreira, con tàu tới Falmouth sửa hư hại do một trận gale gây ra.
Từ năm 1923 đến 1954, Cutty Sark được dùng cho mục đích training.
Trong thế kỷ 21, con tàu đã hai lần bị hư hại bởi fire.
Passage 2: Saving the soil
Một gram đất khỏe mạnh chứa vi khuẩn, virus, nấm, xác thực vật phân hủy và nhiều loại minerals.
Vi sinh vật trong đất giữ lại hàm lượng carbon của động thực vật chết, giúp hạn chế biến đổi khí hậu.
Đất lưu trữ water, nhờ đó giảm thiệt hại do lũ đối với nhà cửa và hạ tầng.
Sự suy thoái đất đe dọa trực tiếp năng suất và nền agriculture phụ thuộc vào lớp đất màu mỡ.
Thông tin về vai trò đa dạng của đất và các vi sinh vật được trình bày trong đoạn C.
Ví dụ cho thấy quy mô và tốc độ mất đất trên toàn cầu nằm ở đoạn E.
Lời cảnh báo mở đầu về việc đất bị xem nhẹ và đang chịu áp lực xuất hiện ở đoạn A.
Phần nói về tác động của phương pháp canh tác hiện đại lên cấu trúc đất nằm trong đoạn D.
Đoạn E trình bày hậu quả nghiêm trọng và các vùng bị ảnh hưởng bởi xói mòn, suy thoái.
Giải pháp phục hồi đất thông qua thay đổi cách quản lý và canh tác được nêu trong đoạn C.
Quan điểm cho rằng cần nhìn đất như một hệ sinh thái sống và áp dụng cách tiếp cận mới nằm ở đoạn F.
Đoạn G tổng kết yêu cầu phối hợp giữa khoa học, chính sách và cộng đồng để bảo vệ đất.
Ví dụ về những biện pháp thực tế giúp nông dân cải thiện đất được nhắc trong đoạn F.
Passage 3: Book review
Người viết cho rằng những người ủng hộ positive psychology thường bỏ qua cả một truyền thống triết học lâu đời về hạnh phúc. Thái độ phê phán này khớp với D.
Đoạn A đối chiếu Aristotle, người gắn hạnh phúc với sự tự hiện thực hóa, với Bentham. Vì vậy chọn A.
Ý tưởng của Bentham về việc gắn trải nghiệm nội tâm với tiền bạc được Davies phân tích ở đoạn B.
Phần nói về công nghệ và phương pháp thu thập dữ liệu cảm xúc trong đời sống hiện đại nằm ở đoạn F.
Lập luận về mối liên hệ giữa nghiên cứu tâm lý và chủ nghĩa tư bản được phát triển trong đoạn B.
Những vấn đề liên quan đến việc chính phủ và doanh nghiệp theo đuổi, quản lý hạnh phúc được bàn trong đoạn G.
Nội dung về cách cảm xúc được theo dõi và biến thành dữ liệu có thể sử dụng nằm ở đoạn E.
Nguồn gốc triết học của quan niệm đo lường hạnh phúc được giới thiệu trong đoạn A.
Reviewer đồng ý rằng cuốn sách đặt ra một vấn đề quan trọng về cách hạnh phúc bị biến thành mục tiêu quản lý. Chọn Yes.
Bài review không cung cấp thông tin đủ để xác nhận nhận định này về tác giả hoặc quá trình viết sách. Chọn Not Given.
Nhận định đi ngược đánh giá của reviewer về lập luận trung tâm của Davies, nên chọn No.
Thông tin cụ thể được hỏi không xuất hiện hoặc không được so sánh rõ trong review. Không suy diễn thêm, chọn Not Given.
Reviewer thừa nhận cuốn sách kết nối hiệu quả lịch sử tư tưởng với thực tiễn chính trị và kinh doanh hiện đại. Nhận định phù hợp nên chọn Yes.
Kết luận của reviewer không cho rằng giải pháp của sách đã hoàn chỉnh hay thuyết phục tuyệt đối. Nhận định trái quan điểm nên chọn No.




