Bảng đáp án Cambridge IELTS 13 Reading Test 1
| 1. update | 11. True | 21. B | 31. A |
| 2. environment | 12. Not Given | 22. D | 32. D |
| 3. captain | 13. True | 23. A | 33. A |
| 4. films | 14. IV | 24. focus | 34. E |
| 5. season | 15. VI | 25. pleasure | 35. C |
| 6. accommodation | 16. I | 26. curiosity | 36. G |
| 7. blog | 17. V | 27. B | 37. B |
| 8. False | 18. VIII | 28. C | 38. Yes |
| 9. Not Given | 19. III | 29. C | 39. Not Given |
| 10. False | 20. E | 30. D | 40. No |
Cambridge 13 Test 1 Passage 1: Case study – Tourism Zealand website
A. New Zealand is a small country of four million inhabitants, a long-haul flight from all the major tourist-generating markets of the world. Tourism currently makes up 9% of the country’s gross domestic product, and is the country’s largest export sector. Unlike other export sectors, which make products and then sell them overseas, tourism brings its customers to New Zealand. The product is the country itself – the people, the places and the experiences. In 1999, Tourism New Zealand launched a campaign to communicate a new brand position to the world. The campaign focused on New Zealand’s scenic beauty, exhilarating outdoor activities and authentic Maori culture, and it made New Zealand one of the strongest national brands in the world.
New Zealand là một quốc gia nhỏ có 4 triệu dân, cách xa tất cả các thị trường du lịch lớn trên thế giới. Gần đây du lịch chiếm 9% tổng sản phẩm quốc nội và là lịch vực xuất khẩu lớn nhất quốc gia. Không giống như các lĩnh vực xuất khẩu khác mà sản xuất sản phẩm và bán ra nước ngoài, du lịch mang khách hàng đến New Zealand. Sản phẩm chính là đất nước này – con người, các địa danh và trải nghiệm. Vào năm 1999, ngành Du lịch New Zealand phát động một chiến dịch để giới thiệu một vị trí thương hiệu mới với thế giới. Chiến dịch tập trung vào vẻ đẹp cảnh quan ở New Zealand, các hoạt động ngoài trời hấp dẫn và văn hóa Maori chính thống, và điều này đã làm cho New Zealand trở thành một trong những thương hiệu quốc gia mạnh nhất thế giới.
B. A key feature of the campaign was the website www.newzealand.com, which provided potential visitors to New Zealand with a single gateway to everything the destination had to offer. The heart of the website was a database of tourism services operators, both those based in New Zealand and those based abroad which offered tourism services to the country. Anytourism-related business could be listed by filling in a simple form. This meant that even the smallest bed and breakfast address or specialist activity provider could gain a web presence with access to an audience of long-haul visitors. (Q1) In addition, because participating businesses were able to update the details they gave on a regular basis, the information provided remained accurate. And to maintain and improve standards, Tourism New Zealand organised a scheme whereby organisations appearing on the website underwent an independent evaluation against a set of agreed national standards of quality. (Q2) As part of this, the effect of each business on the environment was considered.
Một yếu tố chủ chốt trong chiến dịch là website www.newzealand.com, nơi cung cấp cho những khách hàng tiềm năng đến New Zealand một cửa ngõ đến tất cả mọi thứ mà nơi này có thể phục vụ. Trung tâm của website là nguồn dữ liệu của các nhà khai thác dịch vụ du lịch, cả hai đều có trụ sở ở New Zealand và nước ngoài và đều cung cấp dịch vụ du lịch cho đất nước này. Bất cứ một công việc kinh doanh nào liên quan đến du lịch đều được liệt kê ra bằng cách hoàn thành một bản mẫu đơn giản. Điều này có nghĩa rằng thậm chí một chiếc giường ngủ hay bữa sáng nhỏ nhất hay các nhà cung cấp hoạt động đặc biệt đều có thể hiện diện trên web với cách tiếp cận với khách du lịch phương xa. Thêm vào đó, bởi các doanh nghiệp tham gia đều có thể cập nhật các chi tiết họ đã cung cấp một cách thường xuyên nên thông tin được cung cấp vẫn chính xác. Và để duy trì cũng như cải thiện các tiêu chuẩn, ngành Du lịch New Zealand tổ chức một chương trình theo đó các tổ chức xuất hiện trên website trải qua sự đánh giá độc lập dựa trên các tiêu chuẩn chất lượng quốc gia đã được đồng thuận trước đó. Và như một phần của chương trình này, ảnh hưởng của mỗi doanh nghiệp đến môi trường cũng được xem xét.
C. To communicate the New Zealand experience, the site also carried features relating to famous people and places. (Q3) One of the most popular was an interview with former New Zealand All Blacks rugby captain Tana Umaga. Another feature that attracted a lot of attention was (Q4) an interactive journey through a number of the locations chosen for blockbuster films which had made use of New Zealand’s stunning scenery as a backdrop. As the site developed, additional features were added to help independent travellers devise their own customised itineraries. To make it easier to plan motoring holidays, (Q5) the site catalogued the most popular driving routes in the country, highlighting different routes according to the season and indicating distances and times.
Để giới thiệu trải nghiệm ở New Zealand, trang web cũng có những yếu tố liên quan đến những con người và địa danh nổi tiếng. Một trong những yếu tố phổ biến nhất là cuộc phỏng vấn với cựu đội trưởng bóng bầu dục đội Zew Zealand All Blacks Tana Umaga. Một yếu tố khác thu hút rất nhiều sự chú ý là một hành trình tương tác qua rất nhiều địa điểm được lựa chọn bởi những bộ phim bom tấn đã sử dụng phong cảnh tuyệt đẹp ở New Zealand để làm bối cảnh. Bởi trang web này phát triển nên các yếu tố khác cũng được thêm vào để giúp cho những người đi du lịch tự túc có thể đặt ra những lịch trình theo ý họ. Để giúp người ta có thể có những kỳ nghỉ được lên kế hoạch đi dễ dàng hơn, trang web đã lên kế hoạch những tuyến đường lái xe phổ biến nhất ở nước này, làm nổi bật lên những tuyến đường khác nhau theo thời tiết, cũng như chỉ ra khoảng cách và thời gian.
D. Later a Travel Planner feature was added, which allowed visitors to click and ‘bookmark’ places or attractions they were interested in, and then view the results on a map. The Travel Planner offered suggested routes and public transport options between the chosen locations. (Q6) There were also links to accommodation in the area. By registering with the website, users could save their Travel Plan and return to it later, or print it out take on the visit. (Q7) The website also had a ‘Your Words’ section where anyone could submit a blog of their New Zealand travels for possible inclusion on the website.
Sau đó tính năng Travel Planner được thêm vào, cho phép khách du lịch truy cập và đánh dấu những địa điểm hay điểm du lịch mà họ quan tâm, sau đó xem kết quả trên bản đồ. Travel Planner cung cấp các tuyến đường và các sự lựa chọn các phương tiện cộng cộng giữa những nơi đã được chọn. Những thứ này cũng gắn với nơi ở của từng khu vực. Bằng việc đăng ký vào website, người sử dụng có thể lưu lại lịch trình du lịch của họ và xem lại lịch trình hoặc in ra để mang theo khi đi chơi. Website cũng có phần “Văn bản của bạn” nơi bất cứ ai có thể viết blog về chuyến đi của họ đến New Zealand để đưa vào trang web.
E. The Tourism New Zealand website won two Webby awards for online achievement and innovation. More importantly perhaps, the growth of tourism to New Zealand was impressive. Overall tourism expenditure increased by an average of 6.9% per year between 1999 and 2004. From Britain, visits to New Zealand grew at an average annual rate of 13% between 2002 and 2006, compared to a rate of 4% overall for British visits abroad.
Trang web Du Lịch New Zealand thắng được hai giải thưởng Webby cho thành tựu và sự đổi mới trực tuyến. Có thể còn quan trọng hơn đó là sự phát triển của ngành du lịch đến New Zealand thực sự ấn tượng. Tổng quan thì tiền chi tiêu cho du lịch tăng trung bình 6.9% mỗi năm giữa năm 1999 và 2004. Du lịch từ Anh đến New Zealand tăng với mức độ xấp xỉ hàng năm là 13% trong các năm từ 2002 đến 2006, so sánh với tỷ lệ 4% cho các chuyến du lịch nước ngoài của người Anh.
F. (Q8) The website was set up to allow both individuals and travel organisations to create itineraries and travel packages to suit their own needs and interests. On the website, visitors can search for activities not solely by geographical location, but also by the particular nature of the activity. This is important as research shows that activities are the key driver of visitor satisfaction, contributing 74% to visitor satisfaction, (Q10) while transport and accommodation account for the remaining 26%. The more activities that visitors undertake, the more satisfied they will be. (Q11) It has also been found that visitors enjoy cultural activities most when they are interactive, such as visiting a marae (meeting ground) to learn about traditional Maori life. Many long-haul travellers enjoy such earning experiences, which provide them with stories to take home to their friends and family. In addition, it appears that visitors to New Zealand don’t want to be ‘one of the crowd’ and find activities that involve only a few people more special and meaningful.
Trang web được thành lập cho phép cả cá nhân lẫn các tổ chức du lịch có thể tạo nên lịch trình cũng như các gói du lịch để phù hợp với nhu cầu và sở thích của họ. Trên web, khách du lịch có thể tìm kiếm các hoạt động không chỉ bằng vị trí địa lý mà con bởi bản chất đặc thù của các hoạt động. Điều này rất quan trọng bởi nghiên cứu chỉ ra rằng các hoạt động là yếu tố chính khiến khách du lịch hài lòng, đóng góp đến 74% mức độ hài lòng của khác du lịch, trong khi việc đi lại và chỗ ở chiếm 26% còn lại. Khách du lịch tham gia được càng nhiều hoạt động thì họ sẽ càng hài lòng. Điều này cũng cho thấy rằng khách du lịch thích các hoạt động văn hóa nhất khi họ tương tác, ví dụ như đến thăm marea (khu họp mặt) để hiểu thêm về cuộc sống của người Maori truyền thống. Nhiều khách du lịch phương xa thích những trải nghiệm như thế này, những thứ họ có thể kể lại khi trở về với gia đình và bạn bè. Thêm vào đó, có vẻ như khách du lịch đến New Zealand không muốn là “một trong số đám đông” và tìm kiếm những hoạt động chỉ liên quan đến một số người vì nó vừa đặc biệt và có ý nghĩa hơn.
G. It could be argued that New Zealand is not a typical destination. New Zealand is a small country with a visitor economy composed mainly of small businesses. It is generally perceived as a safe English-speaking country with a reliable transport infrastructure. (Q13) Because of the long-haul flight, most visitors stay for longer (average 20 days) and want to see as much of the country as possible on what is often seen as a once-in-a-lifetime visit. However, the underlying lessons apply anywhere-the effectiveness of a strong brand, a strategy based on unique experiences and a comprehensive and user-friendly website.
Có thể nói rằng New Zealand không phải là một điểm đến điển hình. New Zealand là một quốc gia nhỏ với nền kinh tế du lịch được tạo ra chủ yếu bởi các doanh nghiệp nhỏ. Nó cũng thường được coi là một quốc gia nói Tiếng Anh an toàn với cơ sở hạ tầng giao thông đáng tin cậy. Do các chuyến bay đường dài, hầu hết các khách du lịch ở dài ngày (thường 20 ngày) và muốn tham quan đất nước này nhiều nhất có thể, và những chuyến đi này thường được xem như là chuyến đi một lần trong đời vậy. Tuy nhiên, những bài học sau đó được áp dụng mọi nơi, đó là sự hiệu quả của thương hiệu lớn mạnh, một chiến lược dựa trên những trải nghiệm độc đáo và một trang web toàn diện, thân thiện với người dùng.
Cambridge 13 Test 1 Passage 2: Why being bored is stimulating and useful, too
A. We all know how it feels – it’s impossible to keep your mind on anything, time stretches out, and all the things you could do seem equally unlikely to make you feel better. (Q14) But defining boredom so that it can be studied in the lab has proved difficult. For a start, it can include a lot of other mental states, such as frustration, apathy, depression and indifference. There isn’t even agreement over whether boredom is always a low-energy, flat kind of emotion or whether feeling agitated and restless counts as boredom, too. (Q20) In his book, Boredom: A Lively History, Peter Toohey at the University of Calgary, Canada, compares it to disgust – an emotion that motivates us to stay away from certain situations. ‘If disgust protects humans from infection, boredom may protect them from “infectious” social situations,’ he suggests.
Chúng ta đều biết cảm giác đó như thế nào – tâm trí chúng ta không thể tập trung vào bất cứ điều gì, thời gian kéo dài ra, và tất cả những gì chúng ta làm đều có vẻ không khiến chúng ta cảm thấy tốt hơn. Thế nhưng định nghĩa sự buồn chán để nghiên cứu nó trong phòng thí nghiệm lại khá khó khăn. Ban đầu, sự buồn chán có thể bao gồm nhiều trạng thái tinh thần, ví dụ như sự thất vọng, sự lãnh đạm, trầm cảm hay thờ ơ. Thậm chí còn không có sự thống nhất về vấn đề buồn chán là tình trạng luôn thiếu năng lượng, vô cảm hay cảm giác lo âu bồn chồn cũng được coi là tình trạng buồn chán. Trong cuốn sách của mình là “Boredom: A lively History”, Peter Toohey ở trường đại học Calgary, Canada so sánh nó với sự chán ghét – một cảm xúc làm cho chúng ta tránh xa một số trường hợp. Ông ấy nêu ra: “Nếu sự chán ghét bảo vệ con người bởi sự ảnh hưởng thì sự buồn chán có thể bảo vệ họ bởi những tình huống xã hội nhất định”.
B. (Q15) By asking people about their experiences of boredom, Thomas Goetz and his team at the University of Konstanz in Germany have recently identified five distinct types: indifferent, calibrating, searching, reactant and apathetic. These can be plotted on two axes – one running left to right, which measures low to high arousal, and the other from top to bottom, which measures how positive or negative the feeling is. Intriguingly, Goetz has found that while people experience all kinds of boredom, they tend to specialise in one. (Q21) Of the five types, the most damaging is ‘reactant’ boredom with its explosive combination of high arousal and negative emotion. The most useful is what Goetz calls ‘indifferent’ boredom: someone isn’t engaged in anything satisfying but still feels relaxed and calm. However, it remains to be seen whether there are any character traits that predict the kind of boredom each of us might be prone to.
Bằng việc hỏi nhiều người về những trải nghiệm về sự buồn chán, Thomas Goetz và nhóm của ông tại trường đại học Konstanz ở Đức gần đây đã xác định được năm loại buồn chán khác nhau: thờ ơ, định mức, tìm kiếm, phản ứng hay vô cảm. Những loại này có thể được nằm trên hai trục: một trục chạy từ trái sang phải để đo mức từ thấp đến cao, và trục còn lại chạy từ trên xuống dưới để đo cảm xúc là tích cực hay tiêu cực. Kỳ lạ thay, Goetz thấy rằng trong khi mọi người đều trải nghiệm tất cả các loại buồn chán thì họ cũng có xu hướng chuyên về một loại nào đó. Trong năm loại thì loại gây tổn hại nhiều nhất là buồn chán phản ứng hóa học với sự kết hợp bùng nổ của cảm xúc kích thích và tiêu cực cao. Loại tốt nhất là trạng thái buồn chán thờ ơ: một số người chẳng tham gia vào việc gì giúp họ thoả mãn cả nhưng họ vẫn cảm thấy thư giãn và bình tĩnh. Tuy nhiên, chúng ta vẫn nên nhìn nhận liệu có những nét tính cách báo trước chúng ta thuộc nhóm nào.
C. Psychologist Sandi Mann at the University of Central Lancashire, UK, goes further. All emotions are there for a reason, including boredom,’ she says Mann has found that being bored makes us more creative. ‘We’re all afraid of being bored but in actual fact it can lead to all kinds of amazing things,’ she says. In experiments published last year, Mann found that people who had been made to feel bored by copying numbers out of the phone book for 15 minutes came up with more creative ideas about how to use a polystyrene cup than a control group. (Q16) Mann concluded that a passive, boring activity is best for creativity because it allows the mind to wander. In fact, she goes so far as to suggest that we should seek out more boredom in our lives.
Nhà tâm lý học Sandi Mann ở trường đại học Central Lancashire, UK nghiên cứu sâu hơn. Cô ấy nói: “Tất cả các cảm xúc tồn tại đều có lý do, bao gồm cả sự buồn chán”. Cô ấy thấy rằng buồn chán làm cho chúng ta sáng tạo hơn. “Chúng ta đều sợ buồn chán nhưng sự thật là nó có thể dẫn đến tất cả những điều tuyệt vời”. Trong những thí nghiệm được công bố năm ngoái, Mann thấy rằng những người bị làm cho buồn chán bởi việc sao chép số điện thoại ra khỏi danh bạ trong vòng 15 phút nảy ra nhiều ý tưởng sáng tạo về việc sử dụng một cái cốc nhựa hơn là một nhóm bị kiểm soát. Mann kết luận rằng một hoạt động thụ động, buồn chán là tốt nhất cho sự sáng tạo bởi nó cho phép đầu óc người ta đi lang thang. Thực ra, cô ấy đi xa như vậy để cho chúng ta thấy chúng ta nên tìm thêm nhiều sự buồn chán trong cuộc sống này.
D. Psychologist John Eastwood at York University in Toronto, Canada isn’t convinced. ‘If you are in a state of mind-wandering you are not bored,’ he says. ‘In my view, by definition boredom is an undesirable state.’ That doesn’t necessarily mean that it isn’t adaptive, he adds. (Q17) ‘Pain is adaptive – if we didn’t have physical pain, bad things would happen to us. Does that mean that we should actively cause pain? No. But even if boredom has evolved to help us survive, it can still be toxic if allowed to fester’. For Eastwood, the central feature of boredom is a failure to put our ‘attention system’ into gear. (Q24) This causes an inability to focus on anything, which makes time seem to go painfully slowly. (Q22) What’s more, your efforts to improve the situation can end up making you feel worse. ‘People try to connect with the world and if they are not successful there’s that frustration and irritability,’ he says. Perhaps most worryingly, says Eastwood, repeatedly failing to engage attention can lead to a state where we don’t know what to do any more, and no longer care.
Nhà tâm lý học John Eastwood ở trường đại học York ở Toronto, Canada không bị thuyết phục. Ông ấy nói: “Nếu đầu óc bạn đang đi lang thang thì bạn không phải đang buồn chán. Theo quan điểm của tôi, định nghĩa buồn chán là một trạng thái không mong muốn”. Ông ấy nói thêm rằng điều đó không nhất thiết có nghĩa rằng nó không có tính thích nghi. “Nỗi đau mang tính thích ứng – nếu chúng ta không có nỗi đau về thể chất thì những điều tồi tệ sẽ xảy ra với chúng ta. Liệu điều này có nghĩa rằng chúng ta nên chủ động gây ra nỗi đau không? Không. Nhưng thậm chí nếu sự buồn chán đã phát triển để giúp chúng ta tồn tại thì việc để nó bùng phát vẫn là một điều không tốt”. Với Eastwood, tính chất đặc trưng của sự buồn chán là chúng ta không thể đặt “hệ thống tập trung” của chúng ta vào một guồng quay. Điều này dẫn đến việc người ta không thể tập trung vào bất cứ cái gì, và điều này dần dần sẽ dẫn đến việc tổn thương một cách từ từ. Hơn nữa, dù bạn cố gắng cải thiện tình hình, bạn chỉ cảm thấy mọi thứ tồi tệ hơn. Ông nói tiếp: “Người ta cố gắng kết nối với thể giới và nếu không thành công thì sẽ dẫn đến sự thất vọng và tức giận”. Có lẽ đáng lo ngại nhất là việc liên tục thất bại trong việc gây sự chú ý có thể dẫn đến một trạng thái mà chúng ta không biết phải làm gì nữa hay cũng chẳng còn quan tâm đến mọi thứ xung quanh nữa.
E. Eastwood’s team is now trying to explore why the attention system fails. It’s early days but they think that at least some of it comes down to personality.(Q18/25-26) Boredom proneness has been linked with a variety of traits. People who are motivated by pleasure seem to suffer particularly badly. Other personality traits, such as curiosity, are associated with a high boredom threshold. More evidence that boredom has detrimental effects comes from studies of people who are more or less prone to boredom. It seems those who bore easily face poorer prospects in education, their career and even life in general. (Q22) But of course, boredom itself cannot kill -it’s the things we do to deal with it that may put us in danger. What can we do to alleviate it before it comes to that? Goetz’s group has one suggestion. Working with teenagers, they found that those who ‘approach’ a boring situation – in other words, see that it’s boring and get stuck in anyway – report less boredom than those who try to avoid it by using snacks, TV or social media for distraction.
Nhóm của Eastwood giờ đây đang cố gắng khám phá xem tại sao người buồn chán không thể tập trung. Đó mới chỉ là những ngày đầu nhưng họ nghĩ một trong những lý do là tính cách. Thiên hướng buồn chán kết nối với nhiều đặc điểm khác nhau. Những người mà được thúc đẩy bằng sự hài lòng có vẻ như phải chịu đựng sự buồn chán một cách tồi tệ. Những đặc điểm tính cách khác như tò mò thì lại quen với mức độ buồn chán cao. Nhiều chứng cứ cho thấy rằng sự buồn chán có ảnh hưởng tiêu cực đến từ những nghiên cứu về những người ít nhiều có thiên hướng nhàm chán hơn. Điều này có nghĩa rằng những người chán nản thường dễ phải đối mặt với những triển vọng kém trong học hành, công việc hay thậm chí trong cuộc sống nói chung. Tuy nhiên, sự buồn chán không thể mất đi – những điều mà chúng ta làm để xoá đi sự buồn chán có thể khiến chúng ta nguy hiểm. Vậy chúng ta cần làm gì để giảm được sự buồn chán? Nhóm của Goetz có một gợi ý. Khi nghiên cứu trẻ vị thành niên, họ thấy rằng những người đương đầu chấp nhận sự buồn chán, hay nói khác đi là họ ngặm nhấm nỗi buồn và mắc kẹt trong nỗi buồn, chính ra lại trở nên ít buồn hơn so với những người cứ cố phớt lờ và ăn vặt, xem ti vi, mạng xã hội để bản thân không còn nghĩ về nỗi buồn.
F. (Q19/23) Psychologist Francoise Wemelsfelder speculates that our over-connected lifestyles might even be a new source of boredom. ‘In modern human society there is a lot of overstimulation but still a lot of problems finding meaning,’ she says. (Q19) So instead of seeking yet more mental stimulation, perhaps we should leave our phones alone, and use boredom to motivate us to engage with the world in a more meaningful way.
Nhà tâm lý học Francoise Wemelsfelder suy đoán rằng lối sống quá kết nối của chúng ta có thể là một nguồn cơn mới cho sự buồn chán. Bà nói: “Trong xã hội hiện đại của loài người có rất nhiều sự kích thích quá mức nhưng vẫn có nhiều vấn đề đang cần được tìm ra ý nghĩa”. Vì thế thay vì tìm sự thúc đẩy về mặt tinh thần, chúng ta nên để điện thoại sang một bên và coi buồn chán là nguồn động lực cho chúng ta hòa nhập với thể giới một cách có ý nghĩa hơn.
Cambridge 13 Test 1 Passage 3: Artificial artists
A. The Painting Fool is one of a growing number of computer programs which, so their makers claim, possess creative talents. Classical music by an artificial composer has had audiences enraptured, and even tricked them into believing a human was behind the score. (Q27) Artworks painted by a robot have sold for thousands of dollars and been hung in prestigious galleries. And software has been built which creates art that could not have been imagined by the programmer.
Painting Fool là một trong những chương trình máy tính được những người sáng lập ra nhận định rằng chúng sở hữu tài năng sáng tạo. Những bản nhạc cổ điển được một nhà soạn nhạc nhân tạo làm cho khán giả thích thú, và thậm chí khiến cho họ tin rằng con người mới là chủ nhân thật sự sau những bản nhạc kia. Những tác phẩm nghệ thuật được vẽ bởi robot được bán với giá hàng nghìn dollar và được treo trong các phòng triển lãm danh giá. Và phần mềm được xây dựng nên để tạo ra nghệ thuật thì cũng vượt quá cả sự tưởng tượng của nhà lập trình.
B. Human beings are the only species to perform sophisticated creative acts regularly. If we can break this process down into computer code, where does that leave human creativity? ‘This is a question at the very core of humanity,’ says Geraint Wiggins, a computational creativity researcher at Goldsmiths, University of London. ‘It scares a lot of people. (Q28) They are worried that it is taking something special away from what it means to be human.’
Loài người là loài duy nhất thường xuyên thực hiện các trình diễn nghệ thuật phức tạp và giàu tính sáng tạo. Geraint Wiggins, một nhà nghiên cứu về trí tuệ máy tính (sự sáng tạo của máy tính) tại Goldsmiths, trường đại học Luân Đôn đặt ra câu hỏi: “Nếu chúng ta phá vỡ quy trình này thành đoạn mã máy tính thì sự sáng tạo của con người sẽ đi về đâu? Đây là câu hỏi về phần vô cùng cốt lõi của con người. Nó làm cho nhiều người cảm thấy sợ hãi. Họ lo lắng rằng robot đang dần có được những thứ rất đặc biệt mà chỉ con người mới có”.
C. To some extent, we are all familiar with computerised art. The question is: where does the work of the artist stop and the creativity of the computer begin? Consider one of the oldest machine artists, Aaron, a robot that has had paintings exhibited in London’s Tate Modern and the San Francisco Museum of Modern Art. Aaron can pick up a paintbrush and paint on canvas on its own. Impressive perhaps, but it is still little more than a tool to realise the programmer’s own creative ideas.
Theo khía cạnh nào đó, chúng ta đều quen thuộc với hoạt động nghệ thuật được “máy tính hóa”. Câu hỏi ở đây là: vậy đâu sẽ là nơi công việc của một người nghệ sĩ sẽ dừng lại và sức sáng tạo của máy tính được bắt đầu? Quan sát một trong những nghệ sĩ máy móc lão làng nhất, Aaron, một con robot đã có được những bức họa được triển lãm tại London’s Tate Modern và Bảo tàng nghệ thuật hiện đại San Francisco. Aaron có thể tự mình cầm cọ và vẽ nên một bức tranh sơn dầu. Có thể rất ấn tượng, nhưng nó vẫn chỉ nhỉnh hơn một công cụ vì bức tranh mà nó thể hiện chính là ý tưởng sáng tạo của người lập trình ra nó.
D. Simon Colton, the designer of the Painting Fool, is keen to make sure his creation doesn’t attract the same criticism. (Q29) Unlike earlier ‘artists’ such as Aaron, the Painting Fool only needs minimal direction and can come up with its own concepts by going online for material. The software runs its own web searches and trawls through social media sites. It is now beginning to display a kind of imagination too, creating pictures from scratch. One of its original works is a series of fuzzy landscapes, depicting trees and sky. (Q30) While some might say they have a mechanical look, Colton argues that such reactions arise from people’s double standards towards software-produced and human-produced art. After all, he says, consider that the Painting Fool painted the landscapes without referring to a photo. ‘If a child painted a new scene from its head, you’d say it has a certain level of imagination,’ he points out. The same should be true of a machine.’ Software bugs can also lead to unexpected results. (Q31) Some of the Painting Fool’s paintings of a chair came out in black and white, thanks to a technical glitch. This gives the work an eerie, ghostlike quality. Human artists like the renowned Ellsworth Kelly are lauded for limiting their colour palette – so why should computers be any different?
Simon Colton, nhà thiết kế của chương trình Painting Fool kiên quyết khẳng định rằng sản phẩm của anh ấy sẽ không nhận những lời phê bình tương tự. Không giống như những “nghệ sĩ” đời trước như Aaron, chương trình Paiting Fool chỉ cần những chỉ dẫn đơn giản và có thể tự mình tạo ra một ý tưởng riêng từ các dữ liệu trên Internet. Chương trình này được chạy trên các trang web tìm kiếm riêng của nó và chọn lọc thông tin cả trên các mạng xã hội. Và rồi đây, nó cũng sẽ cho thấy khả năng của sự tưởng tượng bằng việc tạo nên những bức tranh mà không cần đến bất cứ một sự chuẩn bị hay ý niệm nào có từ trước. Một trong những tác phẩm đầu tiên của phần mềm này là một loạt những bức tranh phong cảnh mờ ảo phác họa lại những hàng cây và bầu trời. Trong khi có một số người sẽ cho rằng những bức tranh này chỉ có được cái nhìn của những cỗ máy, nhưng Colton đã phản biện rằng những phản ứng này nổi lên từ chuẩn mực khắt khe của con người đối với những tác phẩm nghệ thuật được tạo ra bởi các phần mềm và các nghệ sĩ. Sau cùng ông nói, hãy xem xét việc phần mềm Painting Fool đã vẽ nên những bức tranh phong cảnh mà không dựa trên bất cứ một bức ảnh nào. Ông ấy cũng chỉ ra rằng “Nếu là một đứa trẻ tự mình vẽ ra một hình ảnh mới, hẳn là bạn sẽ cho rằng đứa bé đang sở hữu một mức độ nhất định của trí tưởng tượng. Và điều tương tự như vậy rất có thể cũng đúng với một chiếc máy. Những lỗi của một phần mềm cũng có thể dẫn đến những kết quả không thể đoán trước được. Một vài bức vẽ của Painting Fool về một chiếc ghế được hoàn thành với chỉ 2 màu trắng và đen nhờ có một vài lỗi kĩ thuật nhỏ đã xảy ra. Điều này đã mang đến một hiệu ứng ma mị cho cả bức tranh. Các nghệ sĩ nổi tiếng như Ellsworth Kelly đã từng được ca ngợi vì đã sử dụng những bảng màu rất giới hạn để tạo nên tác phẩm, vậy tại sao đối với những chiếc máy tính lại không?
E. (Q32) Researchers like Colton don’t believe it is right to measure machine creativity directly to that of humans who have had millennia to develop our skills. Others, though, are fascinated by the prospect that a computer might create something as original and subtle as our best artists. So far, only one has come close. (Q33) Composer David Cope invented a program called Experiments in Musical Intelligence, or EMI. Not only did EMI create compositions in Cope’s style, but also that of the most revered classical composers, including Bach, Chopin and Mozart. Audiences were moved to tears, and EMI even fooled classical music experts into thinking they were hearing genuine Bach. Not everyone was impressed however. (Q34) Some, such as Wiggins, have blasted Cope’s work as pseudoscience, and condemned him for his deliberately vague explanation of how the software worked. Meanwhile, (Q35) Douglas Hofstadter of Indiana University said EMI created replicas which still rely completely on the original artist’s creative impulses. (Q36) When audiences found out the truth they were often outraged with Cope, and one music lover even tried to punch him. Amid such controversy, Cope destroyed EMI’s vital databases.
Những nhà nghiên cứu như Colton không cho rằng việc so sánh khả năng sáng tạo của những chiếc máy một cách trực tiếp với khả năng này của con người là đúng đắn vì chúng ta đã có hàng thiên niên kỉ để có thể phát triển những kĩ năng này. Mặc dù vậy, những nhà nghiên cứu khác cũng bị cuốn theo triển vọng của máy có thể tạo nên những tác phẩm nghệ thuật nguyên bản và tài tình như những nghệ sĩ tuyệt vời nhất. Nhưng cho đến nay chỉ có một người đã làm được. Nhà soạn nhạc David Cope đã phát minh ra một phần mềm mang tên “Experiments in musical inteligence – Thí nghiệm trong trí thông minh âm nhạc” hoặc viết tắt là EMI. EMI không chỉ có thể tạo ra những đoạn nhạc theo phong cách của Cope mà còn có thể chơi những bản nhạc của những nhạc sĩ cổ điển nổi tiếng như Bach, Chopin hay Mozart. Khán giả đã xúc động và cả những chuyên gia về âm nhạc cổ điển cùng bị EMI thôi miên trong suy nghĩ rằng họ đang được lắng nghe thần đồng âm nhạc Bach. Tuy nhiên không phải tất cả mọi người đều cảm thấy ấn tượng với những gì Cope đã làm, như Wiggins, ông chỉ trích công trình của Cope như một sự giả khoa học và quy kết Cope bởi sự giải thích xem cái phần mềm này hoạt động như thế nào còn khá mờ nhạt. Trong khi đó, Douglas Hofstadter của trường Đại Học Indiana nói rằng những phiên bản sao chép do EMI tạo ra vẫn dựa hoàn toàn trên những sự sáng tạo bất chợt trong bản gốc của các nghệ sĩ. Khi những khán giả biết được sự thật, họ thường rất giận dữ với Cope, và một người yêu nhạc thậm chí đã cố gắng đánh Cope. Giữa luồng tranh luận đó, Cope đã phá đi hệ thống dữ liệu quan trọng của EMI.
Hướng dẫn phân tích đáp án Cambridge 13 Reading Test 1
Đừng chỉ nhìn đáp án đúng. Hãy để ý cách xác định vị trí thông tin, nhận ra từ đồng nghĩa và kiểm tra xem câu hỏi đang hỏi điều gì. Đây mới là phần giúp bạn làm tốt những bài Reading khác.
Passage 1: Case study – Tourism New Zealand website
Nhìn vào cấu trúc “allow businesses to … details”, chỗ trống cần một động từ. Đoạn B nói các doanh nghiệp có thể thường xuyên update the details, nên lấy nguyên từ update.
Cụm cần tìm nói về khía cạnh chịu ảnh hưởng từ hoạt động kinh doanh. Cuối đoạn B có đúng ý “the effect of each business on the environment”, vì vậy đáp án là environment.
Đề nhắc đến Tana Umaga và cần một danh từ chỉ vai trò trong đội bóng. Đoạn C gọi ông là cựu rugby captain, nên điền captain.
Các địa điểm được dùng làm bối cảnh cho điều gì? Ngay sau cụm “locations chosen for” là blockbuster films. Chỉ được điền một từ nên chọn films.
Đề hỏi yếu tố làm các tuyến đường thay đổi. Bài viết nói website làm nổi bật những tuyến khác nhau according to the season, nên đáp án là season.
Travel Planner cung cấp tuyến đường, phương tiện công cộng và đường dẫn tới nơi ở trong khu vực. Từ xuất hiện trực tiếp trong đoạn D là accommodation.
Phần “Your Words” cho phép người dùng gửi nội dung về chuyến đi của họ. Bài gọi nội dung này là một blog, nên đáp án là blog.
Câu hỏi nói website cung cấp lịch trình làm sẵn. Bài lại nói người dùng được tự tạo lịch trình theo nhu cầu và sở thích. Hai ý đối lập trực tiếp, vì vậy chọn False.
Bài chỉ nói khách có thể tìm theo vị trí địa lý hoặc tính chất hoạt động. Không có dữ liệu cho biết phần lớn khách bắt đầu bằng vị trí địa lý, nên chọn Not Given.
Bài cho biết hoạt động đóng góp 74% mức độ hài lòng, còn giao thông và chỗ ở chỉ chiếm 26%. Vì vậy nếu nhận định cho rằng giao thông và chỗ ở quan trọng nhất thì nhận định đó trái bài: False.
Đoạn F nói khách thích hoạt động văn hóa nhất khi được trực tiếp tương tác, chẳng hạn ghé marae để tìm hiểu đời sống Maori. Ý này khớp với nhận định, nên chọn True.
Bài có nói khách đường dài thích những trải nghiệm mang lại câu chuyện để kể, nhưng không so sánh mức độ phổ biến của hoạt động văn hóa với các hoạt động khác. Thiếu căn cứ để kết luận, nên chọn Not Given.
Đoạn G giải thích vì chuyến bay dài nên khách thường ở khoảng 20 ngày và muốn tham quan càng nhiều càng tốt. Điều này khớp với nhận định, nên chọn True.
Passage 2: Why being bored is stimulating and useful, too
Ý trung tâm đoạn A là sự buồn chán rất khó định nghĩa để nghiên cứu trong phòng thí nghiệm. Đây chính là “Problems with a scientific approach to boredom”, nên chọn iv.
Đoạn B giới thiệu năm loại buồn chán và cách đặt chúng trên hai trục. Trọng tâm là xây dựng hệ thống phân loại, nên heading phù hợp là vi.
Đoạn C tập trung vào lợi ích: trạng thái buồn chán thụ động giúp đầu óc đi lang thang và nảy sinh ý tưởng sáng tạo. Vì vậy chọn heading về kết quả tích cực, i.
Đoạn D thừa nhận buồn chán có thể giúp con người thích nghi nhưng cũng có thể trở nên độc hại nếu kéo dài. Trọng tâm là nguy cơ tiềm tàng, nên chọn v.
Đoạn E liên hệ mức độ dễ buồn chán với tính cách và chỉ ra nhóm nào chịu ảnh hưởng nặng hơn. Heading nói về việc xác định người bị ảnh hưởng nhiều nhất là viii.
Đoạn F vừa nêu một nguyên nhân mới — lối sống quá kết nối — vừa đề xuất cách xử lý là rời điện thoại và tương tác có ý nghĩa hơn. Vì có cả giải thích lẫn giải pháp, chọn iii.
Peter Toohey so sánh buồn chán với cảm giác ghê sợ: cả hai có thể khiến con người tránh những tình huống không dễ chịu. Ý này khớp với lựa chọn E.
Thomas Goetz nói trong năm loại, reactant boredom là loại gây hại nhất. “The most damaging” tương đương với “worse than all the others”, nên chọn B.
John Eastwood cho rằng những nỗ lực xử lý sự buồn chán đôi khi khiến ta thấy tệ hơn hoặc rơi vào nguy hiểm. Đây đúng là ý của lựa chọn D.
Francoise Wemelsfelder xem lối sống luôn kết nối là một nguồn gây buồn chán mới. Nói cách khác, cách sống hiện đại có thể khuyến khích sự buồn chán, nên chọn A.
Sau động từ khuyết thiếu “cannot” cần một động từ nguyên mẫu. Đoạn D nói hệ thống chú ý gặp trục trặc khiến người ta không thể focus on anything, nên điền focus.
Đoạn E nói những người được thúc đẩy bởi cảm giác thỏa mãn chịu ảnh hưởng đặc biệt nặng. Từ được dùng nguyên văn sau “motivated by” là pleasure.
Bài đối chiếu nhóm trên với một đặc điểm gắn với ngưỡng chịu buồn chán cao. Đặc điểm đó là curiosity, nên lấy đúng từ này để điền.
Passage 3: Artificial artists
Đoạn đầu liệt kê hàng loạt thành tựu: nhạc máy tính đánh lừa khán giả, tranh robot bán được hàng nghìn đô và phần mềm tạo ra tác phẩm vượt ngoài dự tính. Tác giả đang nhấn mạnh mức tiến bộ đáng kể, nên chọn B.
Wiggins nói mọi người sợ máy tính lấy đi điều đặc biệt làm nên con người. Lo ngại này liên quan đến một phẩm chất nền tảng của con người, nên đáp án là C.
Aaron chủ yếu thực hiện ý tưởng của người lập trình, còn Painting Fool có thể lên mạng tìm tư liệu và tự hình thành ý tưởng. Khác biệt nằm ở nguồn chất liệu, nên chọn C.
Colton cho rằng người xem dùng “double standards” khi đánh giá tranh do phần mềm và con người tạo ra. Nói đơn giản là hai loại tác phẩm bị chấm theo hai bộ tiêu chí khác nhau, nên chọn D.
Lỗi kỹ thuật khiến bức tranh chiếc ghế chỉ có đen trắng, nhưng chính điều đó tạo ra cảm giác ma mị, khác thường. Tác giả dùng ví dụ này để nói về một hiệu ứng nổi bật, nên chọn A.
Colton cho rằng không công bằng nếu so trực tiếp máy tính với con người — loài đã có hàng thiên niên kỷ phát triển kỹ năng. Câu này nói về việc so sánh thành tựu sáng tạo của hai bên, nên ghép với D.
EMI khiến cả chuyên gia tưởng họ đang nghe nhạc Bach thật. Điều đó cho thấy sản phẩm của phần mềm gần như không thể phân biệt với tác phẩm của con người, nên chọn A.
Wiggins chỉ trích Cope vì cố tình giải thích mơ hồ cách phần mềm hoạt động. Tức là Cope không công khai chi tiết kỹ thuật của chương trình, nên ghép với E.
Hofstadter cho rằng các bản nhạc của EMI vẫn hoàn toàn dựa vào xung lực sáng tạo của nghệ sĩ gốc. Vì tác phẩm phụ thuộc vào trí tưởng tượng của người tạo ban đầu, đáp án là C.
Khán giả tức giận sau khi phát hiện sự thật về nguồn gốc bản nhạc. “Found out the truth” khớp với việc phát hiện đó là sản phẩm của chương trình máy tính, nên chọn G.
Đoạn bàn về phản ứng của khán giả cho thấy cảm nhận của họ thay đổi mạnh khi biết ai — hoặc thứ gì — tạo ra tác phẩm. Vì vậy đáp án phù hợp là B.
Quan điểm được nêu là việc so sánh khả năng sáng tạo của máy và người ở thời điểm hiện tại chưa thật sự công bằng. Nhận định đồng ý với lập luận của tác giả, nên chọn Yes.
Bài có nhắc đến phản ứng của giới chuyên môn và khán giả, nhưng không cung cấp đủ thông tin để xác nhận nhận định cụ thể trong câu hỏi. Không được suy diễn thêm, nên chọn Not Given.
Tác giả không cho rằng nghệ thuật máy tính chỉ đơn thuần vô giá trị hoặc chắc chắn không thể sáng tạo. Nhiều ví dụ trong bài cho thấy điều ngược lại, nên nhận định này là No.





