Bảng đáp án Cambridge IELTS 17 Reading Test 4
| 1. FALSE | 11. unclean | 21. fine | 31. H |
| 2. FALSE | 12. culture | 22. innovation | 32. E |
| 3. NOT GIVEN | 13. houses | 23. B | 33. FALSE |
| 4. TRUE | 14. E | 24. E | 34. NOT GIVEN |
| 5. NOT GIVEN | 15. A | 25. B | 35. NOT GIVEN |
| 6. TRUE | 16. D | 26. D | 36. TRUE |
| 7. droppings | 17. F | 27. D | 37. memory |
| 8. coffee | 18. C | 28. E | 38. numbers |
| 9. mosquitoes | 19. descendants | 29. F | 39. communication |
| 10. protein | 20. sermon | 30. B | 40. visual |
Lưu ý: đáp án được chuẩn hóa theo đúng thứ tự 1–40 của Cambridge 17 Test 4.
Cambridge 17 Test 4 Passage 1: Bats to the rescue
1. There are few places in the world where relations between agriculture and conservation are more strained. Madagascar’s forests are being converted to agricultural land at a rate of one percent every year. (Q1) Much of this destruction is fuelled by the cultivation of the country’s main staple crop: rice. And a key reason for this destruction is that insect pests are destroying vast quantities of what is grown by local subsistence farmers, leading them to clear forest to create new paddy fields. The result is devastating habitat and biodiversity loss on the island, but not all species are suffering. In fact, (Q2) some of the island’s insectivorous bats are currently thriving and this has important implications for farmers and conservationists alike.
Có rất ít nơi trên thế giới mà mối quan hệ giữa nông nghiệp và bảo tồn trở nên căng thẳng hơn. Rừng Madagascar đang được chuyển đổi sang đất nông nghiệp với tỷ lệ một phần trăm mỗi năm. Phần lớn sự tàn phá này được thúc đẩy bởi việc trồng cây lương thực chính của đất nước: lúa gạo. Và một lý do chính cho sự tàn phá này là do côn trùng gây hại đang phá hủy một lượng lớn những gì được trồng bởi những người nông dân địa phương tự cung tự cấp, khiến họ phải phá rừng để tạo ra những cánh đồng lúa mới. Kết quả là môi trường sống bị tàn phá và mất đa dạng sinh học trên đảo, nhưng không phải tất cả các loài đều phải gánh chịu. Trên thực tế, một số loài dơi ăn côn trùng trên đảo hiện đang phát triển mạnh và điều này có ý nghĩa quan trọng đối với nông dân cũng như các nhà bảo tồn.
2. Enter University of Cambridge zoologist Ricardo Rocha. He’s passionate about conservation, and bats. More specifically, he’s interested in how bats are responding to human activity and deforestation in particular. Rocha’s new study shows that (Q4) several species of bats are giving Madagascar’s rice farmers a vital pest control service by feasting on plagues of insects. And this, he believes, can ease the financial pressure on farmers to turn forest into fields.
Nhà động vật học Ricardo Rocha vào Đại học Cambridge. Ông đam mê bảo tồn và loài dơi. Cụ thể hơn, ông quan tâm đến cách loài dơi phản ứng với hoạt động của con người và nạn phá rừng nói riêng. Nghiên cứu mới của Rocha cho thấy một số loài dơi đang cho nông dân trồng lúa ở Madagascar một công cụ kiểm soát sâu bệnh quan trọng bằng cách ăn các loại côn trùng gây dịch. Và theo ông thì điều này có thể giảm bớt áp lực tài chính đối với người nông dân trong việc biến rừng thành ruộng.
3. Bats comprise roughly one-fifth of all mammal species in Madagascar and thirty-six recorded bat species are native to the island, making it one of the most important regions for conservation of this animal group anywhere in the world.
Dơi chiếm khoảng 1/5 tổng số loài động vật có vú ở Madagascar và 36 loài dơi được ghi nhận có nguồn gốc từ hòn đảo, khiến nó trở thành một trong những khu vực quan trọng nhất để bảo tồn nhóm động vật này trên thế giới.
4. Co-leading an international team of scientists, Rocha found that several species of indigenous bats are taking advantage of habitat modification to hunt insects swarming above the country’s rice fields. (Q5) They include the Malagasy mouse-eared bat, Major’s long-fingered bat, the Malagasy white-bellied free-tailed bat and Peters’ wrinkle-lipped bat.
Đồng dẫn đầu một nhóm các nhà khoa học quốc tế, Rocha phát hiện ra rằng một số loài dơi bản địa đang lợi dụng việc thay đổi môi trường sống để săn côn trùng tràn ngập trên các cánh đồng lúa của đất nước. Chúng bao gồm dơi tai chuột Malagasy, dơi ngón dài Major, dơi đuôi dài bụng trắng Malagasy và dơi có nếp nhăn của Peters.
5. ‘These winner species are providing a valuable free service to Madagascar as biological pest suppressors,’ says Rocha. (Q6) “We found that six species of bat are preying on rice pests, including the paddy swarming caterpillar and grass webworm. The damage which these insects cause puts the island’s farmers under huge financial pressure and that encourages deforestation.”
Rocha cho biết: “Những loài chiến thắng này đang cung cấp một dịch vụ miễn phí có giá trị cho Madagascar như những loài ngăn chặn dịch hại sinh học. “Chúng tôi phát hiện ra rằng sáu loài dơi đang săn sâu bọ hại lúa, bao gồm cả sâu bướm ăn lúa và sâu tơ cỏ. Thiệt hại mà những loài côn trùng này gây ra khiến nông dân trên đảo phải chịu áp lực tài chính lớn và khiến họ phá rừng.”
6. The study, now published in the journal Agriculture, Ecosystems and Environment, set out to investigate the feeding activity of insectivorous bats in the farmland bordering the Ranomafana National Park in the southeast of the country.
Nghiên cứu hiện được công bố trên tạp chí Nông nghiệp, Hệ sinh thái và Môi trường, nhằm điều tra hoạt động kiếm ăn của dơi ăn côn trùng ở vùng đất nông nghiệp giáp với Vườn quốc gia Ranomafana ở phía đông nam của đất nước.
7. Rocha and his team used state-of-the-art ultrasonic recorders to record over a thousand bat ‘feeding buzzes’ (echolocation sequences used by bats to target their prey) at 54 sites, in order to identify the favourite feeding spots of the bats. (Q7) They next used DNA barcoding techniques to analyse droppings collected from bats at the different sites.
Rocha và nhóm của ông đã sử dụng máy ghi âm siêu âm hiện đại để ghi lại hơn một nghìn tiếng ‘vo ve kiếm ăn’ của dơi (chuỗi định vị bằng tiếng vang được dơi sử dụng để nhắm mục tiêu con mồi của chúng) tại 54 địa điểm, nhằm xác định các điểm kiếm ăn yêu thích của dơi . Tiếp theo, họ sử dụng kỹ thuật mã vạch DNA để phân tích phân được thu thập từ những con dơi ở các địa điểm khác nhau.
8. The recordings revealed that bat activity over rice fields was much higher than it was in continuous forest-seven times higher over rice fields which were on flat ground, and sixteen times higher over fields on the sides of hills – leaving no doubt that the animals are preferentially foraging in these man-made ecosystems. The researchers suggest that the bats favour these fields because lack of water and nutrient run-off make these crops more susceptible to insect pest infestations. DNA analysis showed that all six species of bat had fed on economically important insect pests. (Q8) While the findings indicated that rice farming benefits most from the bats, the scientists also found indications that the bats were consuming pests of other crops, including the black twig borer (which infests coffee plants), the sugarcane cicada, the macadamia nut-borer, and the sober tabby (a pest of citrus fruits).
Các bản ghi âm cho thấy hoạt động của dơi trên ruộng lúa cao hơn nhiều so với trong rừng – cao hơn bảy lần ở ruộng lúa ở trên mặt đất bằng phẳng và cao hơn mười sáu đối với các cánh đồng ở hai bên đồi. Vì thế, không có nghi ngờ gì về việc các loài động vật này ưu tiên kiếm ăn trong các hệ sinh thái nhân tạo này. Các nhà nghiên cứu cho rằng loài dơi ưa thích những cánh đồng này vì thiếu nước và cạn kiệt chất dinh dưỡng khiến những cây trồng này dễ bị sâu bệnh phá hoại hơn. Phân tích DNA cho thấy tất cả sáu loài dơi đã ăn những con sâu bọ quan trọng về kinh tế. Trong khi các phát hiện chỉ ra rằng loài rơi mang lại lợi ích cho việc canh tác lúa, các nhà khoa học cũng tìm thấy dấu hiệu cho thấy dơi đang ăn sâu bệnh hại cây trồng khác, bao gồm sâu đục cành đen (phá hoại cây cà phê), ve sầu, sâu đục quả mắc ca, và mướp đắng (một loài gây hại cho trái cây họ cam quýt).
9. ‘The effectiveness of bats as pest controllers has already been proven in the USA and Catalonia’, said co-author James Kemp, from the University of Lisbon. ‘But our study is the first to show this happening in Madagascar, where the stakes for both farmers and conservationists are so high.’
Đồng tác giả James Kemp từ Đại học Lisbon cho biết: “Hiệu quả của dơi trong vai trò kiểm soát dịch đã được chứng minh ở Hoa Kỳ và Catalonia. Tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu đầu tiên cho thấy nó đang xảy ra ở Madagascar, nơi mà cả người nông dân và cả nhà bảo tồn điều nhiều’
10. Local people may have a further reason to be grateful to their bats. While the animal is often associated with spreading disease, (Q9) Rocha and his team found evidence that Malagasy bats feed not just on crop pests but also on mosquitoes – carriers of malaria, Rift Valley fever virus and elephantiasis – as well as blackflies, which spread river blindness.
Thêm một lý do nữa người địa phương nên cảm thấy biết ơn con dơi. Trong khi loài động vật này thường lây lan dịch bệnh, Rocha và nhóm của ông đã tìm thấy bằng chứng cho thấy dơi Malagasy không chỉ ăn sâu bọ hại cây trồng mà còn ăn muỗi – vật mang bệnh sốt rét, vi rút sốt Rift Valley và bệnh phù chân voi – cũng như đom đóm, truyền bệnh mù sông. .
11. Rocha points out that the relationship is complicated. (Q10) When food is scarce, bats become a crucial source of protein for local people. Even the children will hunt them. And as well as roosting in trees, (Q11) the bats sometimes roost in buildings, but are not welcomed there because they make them unclean. At the same time, however, they are associated with sacred caves and the ancestors, so (Q12) they can be viewed as beings between worlds, which makes them very significant in the culture of the people. And one potential problem is that while these bats are benefiting from farming, at the same time deforestation is reducing the places where they can roost, which could have long-term effects on their numbers. Rocha says, (Q13) ‘With the right help, we hope that farmers can promote this mutually beneficial relationship by installing bat houses.‘
Rocha chỉ ra rằng mối quan hệ này rất phức tạp. Khi thức ăn khan hiếm, dơi trở thành nguồn cung cấp protein quan trọng cho người dân địa phương. Ngay cả những đứa trẻ cũng sẽ bắt dơi. Và ngoài việc đậu trên cây, đôi khi dơi đậu trong các tòa nhà, nhưng không được chào đón ở đó vì chúng làm cho những nơi này trở nên ô uế. Tuy nhiên, đồng thời, chúng gắn liền với các hang động linh thiêng và tổ tiên xa xôi của chúng ta, vì vậy chúng có thể được xem như những sinh mệnh giữa các thế giới, điều này làm cho chúng có ý nghĩa rất lớn trong văn hóa của người dân. Và một vấn đề tiềm ẩn là trong khi những con dơi này được hưởng lợi từ việc nuôi trồng, nạn phá rừng lại đang làm giảm những nơi chúng có thể trú ngụ, điều này có thể ảnh hưởng lâu dài đến số lượng của chúng. Rocha nói, ‘Với sự giúp đỡ phù hợp, chúng tôi hy vọng rằng người nông dân có thể thúc đẩy mối quan hệ đôi bên cùng có lợi này bằng cách lắp các nhà cho dơi.’
12. Rocha and his colleagues believe that maximising bat populations can help to boost crop yields and promote sustainable livelihoods. The team is now calling for further research to quantify this contribution. ‘I’m very optimistic,’ says Rocha. ‘If we give nature a hand, we can speed up the process of regeneration.’
Rocha và các đồng nghiệp của ông tin rằng việc tối đa hóa quần thể dơi có thể giúp tăng năng suất cây trồng và thúc đẩy sinh kế bền vững. Nhóm nghiên cứu hiện đang kêu gọi nghiên cứu thêm để xác định họ nên xây bao nhiêu tổ. Rocha nói: “Tôi rất lạc quan. Nếu chúng ta giúp đỡ thiên nhiên, chúng ta có thể đẩy nhanh quá trình tái tạo.”
Cambridge 17 Test 4 Passage 2: Does education fuel economic growth?
A. Over the last decade, a huge database about the lives of southwest German villagers between 1600 and 1900 has been compiled by a team led by Professor Sheilagh Ogilvie at Cambridge University’s Faculty of Economics. It includes court records, guild ledgers, parish registers, village censuses, tax lists and the most recent addition -9,000 handwritten inventories listing over a million personal possessions belonging to ordinary women and men across three centuries. Ogilvie, who discovered the inventories in the archives of two German communities 30 years ago, believes they may hold the answer to a conundrum that has long puzzled economists: the lack of evidence for a causal link between education and a country’s economic growth.
Trong thập kỷ qua, một cơ sở dữ liệu khổng lồ về cuộc sống của dân làng Tây Nam nước Đức từ năm 1600 đến năm 1900 đã được biên soạn bởi một nhóm do Giáo sư Sheilagh Ogilvie tại Khoa Kinh tế của Đại học Cambridge dẫn đầu. Nó bao gồm hồ sơ tòa án, sổ cái bang hội, sổ đăng ký giáo xứ, điều tra dân số làng, danh sách thuế và bổ sung gần đây nhất khoảng 9.000 bản kiểm kê viết tay liệt kê hơn một triệu tài sản cá nhân thuộc về phụ nữ và đàn ông bình thường trong suốt ba thế kỷ. Ogilvie, người đã phát hiện ra những hàng tồn kho trong kho lưu trữ của hai cộng đồng người Đức cách đây 30 năm, tin rằng họ có thể nắm giữ câu trả lời cho một câu hỏi hóc búa mà từ lâu đã khiến các nhà kinh tế bối rối: thiếu bằng chứng về mối liên hệ nhân quả giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.
B. As Ogilvie explains, ‘Education helps us to work more productively, invent better technology, and earn more … surely it must be critical for economic growth? But, if you look back through history, there’s no evidence that having a high literacy rate made a country industrialise earlier.’ Between 1600 and 1900, England had only mediocre literacy rates by European standards, yet its economy grew fast and it was the first country to industrialise. During this period, Germany and Scandinavia had excellent literacy rates, but their economies grew slowly and they industrialised late. ‘Modern cross-country analyses have also struggled to find evidence that education causes economic growth, even though there is plenty of evidence that growth increases education,’ she adds.
Như Ogilvie giải thích, ‘Giáo dục giúp chúng ta làm việc hiệu quả hơn, phát minh ra công nghệ tốt hơn và kiếm được nhiều tiền hơn … chắc chắn nó phải rất quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế? Nhưng, nếu bạn nhìn lại lịch sử, không có bằng chứng nào cho thấy tỷ lệ biết chữ cao đã khiến một quốc gia trở nên công nghiệp sớm hơn.’ Từ năm 1600 đến năm 1900, nước Anh chỉ có tỷ lệ biết chữ ở mức trung bình theo tiêu chuẩn châu Âu, tuy nhiên nền kinh tế của nước này phát triển nhanh và là nước đầu tiên công nghiệp hóa. Trong thời kỳ này, Đức và Scandinavia có tỷ lệ người biết chữ cao, nhưng nền kinh tế của họ phát triển chậm và công nghiệp hóa muộn. Bà cho biết thêm: “Các phân tích xuyên quốc gia hiện đại cũng đã phải vật lộn để tìm ra bằng chứng cho thấy giáo dục tạo ra tăng trưởng kinh tế, mặc dù có nhiều bằng chứng cho thấy tăng trưởng kinh tế giúp phát triển giáo dục.
Previous studies usually had just one way of linking education with economic growth – the presence of schools and printing presses, perhaps, or school enrolment, or the ability to sign names. According to Ogilvie, the database provides multiple indicators for the same individuals, making it possible to analyse links between literacy, numeracy, wealth, and industriousness, for individual women and men over the long term.
Trong các bản kiểm kê viết tay mà Ogilvie đang phân tích là đồ đạc của phụ nữ và đàn ông khi kết hôn, tái hôn và khi chết. Từ da lửng cho đến Kinh thánh, máy khâu đến quần áo màu đỏ tươi – toàn bộ hàng hóa của dân làng đều được liệt kê. Thiết bị nông nghiệp và công cụ thủ công cho thấy các hoạt động kinh tế, việc sở hữu sách và các đồ vật liên quan đến giáo dục như bút và phiến đá gợi ý cách mọi người học tập. Ngoài ra, danh sách thuế có trong cơ sở dữ liệu ghi lại giá trị của các trang trại, xưởng, tài sản và các khoản nợ, chữ ký và ước tính tuổi của mọi người cho biết trình độ biết chữ và khả năng tính toán, và hồ sơ tòa án cho thấy những trở ngại (chẳng hạn như hoạt động của các bang hội) gây khó dễ cho công nghiệp.
D. Ogilvie and her team have been building the vast database of material possessions on top of their full demographic reconstruction of the people who lived in these two German communities. (Q19) We can follow the same people and their descendants – across 300 years of educational and economic change,’ she says. Individual lives have unfolded before their eyes. Stories like (Q20) that of the 24-year-olds Ana Regina and Magdalena Riethmüllerin, who were chastised in 1707 for reading books in church instead of listening to the sermon. ‘This tells us they were continuing to develop their reading skills at least a decade after leaving school,’ explains Ogilvie. The database also reveals the case of Juliana Schweickherdt, a 50-year-old spinster living in the small Black Forest community of Wildberg, who was reprimanded in 1752 by the local weavers guild for ‘weaving cloth and combing wool, counter to the guild ordinance’. When Juliana continued taking jobs reserved for male guild members, (Q21) she was summoned before the guild court and told to pay a fine equivalent to one third of a servant’s annual wage. It was a small act of defiance by today’s standards, but it reflects a time when laws in Germany and elsewhere regulated people’s access to labour markets. (Q22) The dominance of guilds not only prevented people from using their skills, but also held back even the simplest industrial innovation.
Ogilvie và nhóm của cô đã xây dựng cơ sở dữ liệu khổng lồ về tài sản vật chất bên cạnh việc tái tạo nhân khẩu học đầy đủ của họ về những người sống trong hai cộng đồng người Đức này. Cô nói: Chúng ta có thể theo dõi những người tương tự và con cháu của họ – trong suốt 300 năm thay đổi về giáo dục và kinh tế. Cuộc sống cá nhân đã mở ra trước mắt họ. Những câu chuyện tương tự về hai thanh niên 24 tuổi Ana Regina và Magdalena Riethmüllerin, những người bị trừng phạt vào năm 1707 vì đọc sách trong nhà thờ thay vì nghe bài giảng, cho chúng tôi biết rằng họ đang tiếp tục phát triển kỹ năng đọc của mình ít nhất một thập kỷ sau khi rời trường học. Cơ sở dữ liệu cũng tiết lộ trường hợp của Juliana Schweickherdt, một thợ quay 50 tuổi sống trong cộng đồng Rừng Đen nhỏ ở Wildberg, người đã bị hội thợ dệt địa phương khiển trách vào năm 1752 vì tội dệt vải và chải len, trái với lệnh của hội. Khi Juliana tiếp tục nhận công việc dành riêng cho các thành viên nam, bà ấy đã bị triệu tập trước toà án và bị yêu cầu phải trả một khoản tiền phạt tương đương một phần ba mức lương hàng năm của một người hầu. Đó là một hành động nhỏ không tuân theo các tiêu chuẩn ngày nay, nhưng nó phản ánh thời kỳ mà luật pháp ở Đức và các nơi khác quy định quyền tiếp cận thị trường lao động của mọi người. Sự thống trị của các bang hội không chỉ ngăn cản mọi người sử dụng kỹ năng của họ, mà còn cản trở ngay cả những đổi mới công nghiệp đơn giản nhất.
E. The data-gathering phase of the project has been completed and now, according to Ogilvie, it is time to ask the big questions. One way to look at whether education causes economic growth is to ‘hold wealth constant’. This involves following the lives of different people with the same level of wealth over a period of time. If wealth is constant, it is possible to discover whether education was, for example, linked to the cultivation of new crops, or to the adoption of industrial innovations like sewing machines. The team will also ask what aspect of education helped people engage more with productive and innovative activities. Was it, for instance, literacy, numeracy, book ownership, years of schooling? Was there a level – a tipping point that needed to be reached to affect economic performance?
Giai đoạn thu thập dữ liệu của dự án đã hoàn thành và bây giờ, theo Ogilvie, đã đến lúc đặt ra những câu hỏi lớn. Một cách để xem liệu giáo dục có tạo ra tăng trưởng kinh tế hay không là ‘giữ của cải không đổi’. Điều này liên quan đến việc theo dõi cuộc sống của những người khác nhau với cùng mức độ giàu có trong một khoảng thời gian. Nếu sự giàu có là không đổi, thì giáo dục có liên quan đến việc trồng trọt các loại cây mới hay với việc áp dụng các cải tiến công nghiệp như máy may. Nhóm cũng sẽ hỏi khía cạnh nào của giáo dục đã giúp mọi người tham gia nhiều hơn vào các hoạt động hiệu quả và đổi mới. Chẳng hạn, đó có phải là khả năng đọc viết, tính toán, sở hữu sách, số năm đi học không? Có mức độ, hay một điểm tối thiểu cần đạt được để có thể có những tác động đến hoạt động kinh tế không?
‘Early findings suggest that the potential benefits of education for the economy can be held back by other barriers, and this has implications for today,’ says Ogilvie. ‘Huge amounts are spent improving education in developing countries, but this spending can fail to deliver economic growth if restrictions block people – especially women and the poor – from using their education in economically productive ways. If economic institutions are poorly set up, for instance, education can’t lead to growth.’
Ogilvie hy vọng sẽ bắt đầu tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi này trong vài năm tới. Bà nói có một điều đã rõ ràng: mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế còn lâu mới rõ ràng. Bà giải thích: “Trung Âu nói tiếng Đức là một phòng thí nghiệm tuyệt vời để thử nghiệm các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế. Từ năm 1600 đến năm 1900, tỷ lệ người biết chữ và sở hữu sách cao nhưng khu vực này vẫn nghèo. Cũng có trường hợp rằng các bang hội và hiệp hội thương nhân địa phương cực kỳ mạnh mẽ và lập pháp chống lại bất cứ điều gì phá hoại độc quyền của họ. Tại các làng khắp vùng, các bang hội đã ngăn chặn việc di cư lao động và chống lại những thay đổi có thể làm giảm ảnh hưởng của họ.
Cambridge 17 Test 4 Passage 3: Timur Gareyev – blindfold chess champion
A. Next month, a chess player named Timur Gareyev will take on nearly 50 opponents at once. But that is not the hard part. (Q33) While his challengers will play the games as normal, Gareyev himself will be blindfolded. Even by world record standards, it sets a high bar for human performance. The 28-year-old already stands out in the rarefied world of blindfold chess. He has a fondness for bright clothes and unusual hairstyles, and (Q34) he gets his kicks from the adventure sport of BASE jumping. He has already proved himself a strong chess player, too. In a 10-hour chess marathon in 2013, Gareyev played 33 games in his head simultaneously. He won 29 and lost none. The skill has become his brand: he calls himself the Blindfold King.
Vào tháng tới, một kỳ thủ cờ vua tên là Timur Gareyev sẽ đối đầu với gần 50 đối thủ cùng một lúc. Nhưng đó không phải là phần khó. Trong khi những người thách đấu sẽ chơi trò chơi này như bình thường, thì bản thân Gareyev sẽ bị bịt mắt. Ngay cả theo tiêu chuẩn kỷ lục thế giới, nó cũng đặt ra một tiêu chuẩn cao cho hiệu suất của con người. Người đàn ông 28 tuổi đã nổi bật trong thế giới cờ bịt mắt hiếm có. Anh ấy thích quần áo sáng màu và kiểu tóc khác thường, và anh ấy thích môn thể thao mạo hiểm như nhảy BASE. Anh ấy cũng đã chứng tỏ mình là một kỳ thủ cờ vua mạnh mẽ. Trong cuộc thi cờ vua kéo dài 10 giờ vào năm 2013, Gareyev đã chơi 33 ván cùng một lúc. Anh thắng 29 và không thua. Kỹ năng đã trở thành thương hiệu của anh ấy: anh ấy tự gọi mình là Vua Bịt mắt.
B. (Q30) But Gareyev’s prowess has drawn interest from beyond the chess playing community. In the hope of understanding how he and others like him can perform such mental feats, researchers at the University of California in Los Angeles (UCLA) called him in for tests. They now have their first results. The ability to play a game of chess with your eyes closed is not a far reach for most accomplished players,’ said Jesse Rissman, who runs a memory lab at UCLA. But the thing that’s so remarkable about Timur and a few other individuals is the number of games they can keep active at once. To me it is simply astonishing.’
Nhưng sức mạnh của Gareyev đã thu hút sự quan tâm từ bên ngoài cộng đồng chơi cờ. Với hy vọng hiểu được làm thế nào anh ta và những người khác như anh ta có thể thực hiện những kỳ công về tinh thần như vậy, các nhà nghiên cứu tại Đại học California ở Los Angeles (UCLA) đã gọi anh ta đến để kiểm tra. Bây giờ họ đã có kết quả đầu tiên. Jesse Rissman, người điều hành một phòng thí nghiệm trí nhớ tại UCLA, cho biết khả năng chơi cờ vua mà nhắm mắt lại không phải là một điều quá xa vời đối với hầu hết những người chơi giỏi. Nhưng điều đáng chú ý về Timur và một vài cá nhân khác là số lượng trò chơi mà họ có thể chơi cùng một lúc. Đối với tôi nó thực sự đáng kinh ngạc. ‘
C. Gareyev learned to play chess in his native Uzbekistan when he was six years old. Tutored by his grandfather, he entered his first tournament aged eight and soon became obsessed with competitions. At 16, he was crowned Asia’s youngest ever chess grandmaster. He moved to the US soon after, and as a student helped his university win its first national chess championship. In 2013, Gareyev was ranked the third best chess player in the US.
Gareyev học chơi cờ vua ở quê hương Uzbekistan khi anh mới 6 tuổi. Được ông nội dạy dỗ, anh tham gia giải đấu đầu tiên khi mới 8 tuổi và nhanh chóng bị ám ảnh bởi các cuộc thi. Năm 16 tuổi, anh được trao danh hiệu kiện tướng cờ vua trẻ nhất châu Á. Anh chuyển đến Mỹ ngay sau đó, và khi còn là sinh viên, anh đã giúp trường đại học của anh giành chức vô địch cờ vua quốc gia đầu tiên. Năm 2013, Gareyev được xếp hạng là kỳ thủ cờ vua giỏi thứ ba ở Mỹ.
D. To the uninitiated, blindfold chess seems to call for superhuman skill. But displays of the feat go back centuries. The first recorded game in Europe was played in 13th-century Florence. In 1947, the Argentinian grandmaster Miguel Najdorf played 45 simultaneous games in his mind, winning 39 in the 24-hour session.
Đối với những người mới bắt đầu, cờ vua bịt mắt dường như đòi hỏi kỹ năng siêu phàm. Nhưng màn trình diễn kỳ tích như thế đã có từ nhiều thế kỷ trước. Trận cờ vua đầu tiên được ghi lại ở châu Âu được chơi ở Florence vào thế kỷ 13. Năm 1947, đại kiện tướng người Argentina Miguel Najdorf đã chơi 45 trận cùng lúc, giành chiến thắng 39 trận trong 24 giờ.
E. (Q36) Accomplished players can develop the skill of playing blind even without realising it. The nature of the game is to run through possible moves in the mind to see how they play out. From this, regular players develop a memory for the patterns the pieces make, the defences and attacks. ‘You recreate it in your mind,’ said Gareyev. ‘A lot of players are capable of doing what I’m doing’. The real mental challenge comes from playing multiple games at once in the head. Not only must the positions of each piece on every board be memorised, they must be recalled faithfully when needed, updated with each player’s moves, and then reliably stored again, so the brain can move on to the next board. First moves can be tough to remember because they are fairly uninteresting. (Q32) But the ends of games are taxing too, as exhaustion sets in. When Gareyev is tired, his recall can get patchy. He sometimes makes moves based on only a fragmented memory of the pieces’ positions.
Người chơi giỏi có thể phát triển kỹ năng chơi khi bị bịt mắt mà không nhận ra điều đó. Bản chất của trò chơi là nhớ nhanh các bước đi có thể có trong tâm trí để xem chúng diễn ra như thế nào. Từ đó, những người chơi thường xuyên phát triển trí nhớ về cách sắp xếp các quân cờ, cách phòng thủ và các cuộc tấn công. Gareyev nói: Bạn tạo lại nó trong tâm trí của mình. Rất nhiều cầu thủ có khả năng làm những gì tôi đang làm. Thử thách tinh thần thực sự đến từ việc chơi nhiều trận cùng một lúc trong đầu. Không chỉ phải ghi nhớ vị trí của từng quân cờ trên mỗi bàn cờ mà người chơi phải nhớ lại một cách trung thực khi cần thiết, cập nhật với từng nước đi của người kia và sau đó được lưu trữ lại một cách đáng tin cậy trước khi não bộ có thể chuyển sang bàn cờ tiếp theo. Những bước di chuyển đầu tiên có thể khó nhớ vì chúng khá không thú vị. Nhưng phần cuối có thể khó khăn, vì người chơi bắt đầu kiệt sức. Khi Gareyev mệt mỏi, khả năng nhớ lại của anh ta có thể trở nên loang lổ/ thiếu. Đôi khi anh ta thực hiện các bước di chuyển chỉ dựa trên một bộ nhớ phân mảnh về vị trí của các quân cờ.
(Q37) The scientists first had Gareyev perform some standard memory tests. These assessed his ability to hold numbers, pictures and words in mind. (Q38) One classic test measures how many numbers a person can repeat, both forwards and backwards, soon after hearing them. Most people manage about seven. ‘He was not exceptional on any of these standard tests,’ said Rissman. (Q29) ‘We didn’t find anything other than playing chess that he seems to be supremely gifted at.’ But next came the brain scans. With Gareyev lying down in the machine, Rissman looked at how well connected the various regions of the chess player’s brain were. Though the results are tentative and as yet unpublished, (Q39) the scans found much greater than average communication between parts of Gareyev’s brain that make up what is he frontoparietal control network. Of 63 people scanned alongside the chess player, only one or two scored more highly on the measure. ‘You use this network in almost any complex task. It helps you to allocate attention, keep rules in mind, and work out whether you should be responding or not,’ said Rissman.
Đầu tiên, các nhà khoa học đã yêu cầu Gareyev thực hiện một số bài kiểm tra trí nhớ. Những điều này đánh giá khả năng ghi nhớ các con số, hình ảnh và từ ngữ của anh ấy. Một bài kiểm tra cổ điển đo xem một người có thể lặp lại bao nhiêu con số, cả số tiến và số lùi, ngay sau khi nghe chúng. Hầu hết mọi người có thể nhớ được khoảng bảy. Rissman nói: “Anh ấy không phải là người xuất sắc trong bất kỳ bài kiểm tra tiêu chuẩn nào. Chúng tôi không tìm thấy gì khác ngoài việc anh ấy dường như có năng khiếu siêu phàm trong việc chơi cờ.” Nhưng tiếp theo, họ quét não. Gareyev nằm trong một cái máy, Rissman xem xét mức độ kết nối của các vùng khác nhau trong não của người chơi cờ vua. Mặc dù kết quả chỉ mang tính chất dự kiến và chưa được công bố, nhưng kết quả quét cho thấy sự liên lạc lớn hơn nhiều so với mức trung bình giữa các phần trong não của Gareyev tạo nên mạng lưới điều khiển trực diện của anh ta. Trong số 63 người được quét cùng với người chơi cờ, chỉ có một hoặc hai người đạt điểm cao hơn so với thước đo. Rissman nói: ‘Bạn sử dụng mạng kết nối này trong hầu hết mọi nhiệm vụ phức tạp. Nó giúp bạn phân bổ sự chú ý, ghi nhớ các quy tắc và tìm ra liệu bạn có nên phản hồi hay không.
It was not the only hint of something special in Gareyev’s brain. The scans also suggest that Gareyev’s visual network is more highly connected to other brain parts than usual. Initial results suggest that (Q40) the areas of his brain that process visual images – such as chess boards – may have stronger links to other brain regions, and so be more powerful than normal. While the analyses are not finalised yet, they may hold the first clues to Gareyev’s extraordinary ability
Đó không phải là gợi ý duy nhất về điều gì đó đặc biệt trong não của Gareyev. Kết quả quét cũng cho thấy mạng lưới thị giác của Gareyev có mối liên hệ chặt chẽ với các bộ phận não khác hơn bình thường. Kết quả ban đầu cho thấy rằng các vùng não xử lý hình ảnh trực quan của anh ta – chẳng hạn như bàn cờ – có thể có liên kết mạnh hơn với các vùng não khác, và do đó mạnh hơn bình thường. Mặc dù các phân tích vẫn chưa được hoàn thiện, nhưng chúng có thể nắm giữ những manh mối đầu tiên về khả năng phi thường của Gareyev
For the world record attempt, Gareyev hopes to play 47 blindfold games at once in about 16 hours. He will need to win 80% to claim the title. I don’t worry too much about the winning percentage, that’s never been an issue for me,’ he said. “The most important part of blindfold chess for me is that I have found the one thing that I can fully dedicate myself to. I miss having an obsession.’
Đối với nỗ lực lập kỷ lục thế giới, Gareyev hy vọng sẽ chơi 47 trận cờ bịt mắt cùng một lúc trong khoảng 16 giờ. Anh ấy sẽ cần 80% chiến thắng để giành được danh hiệu. Anh ý nói: “Tôi không quá lo lắng về tỷ lệ chiến thắng, đó chưa bao giờ là vấn đề đối với tôi. Phần quan trọng nhất của cờ vua bịt mắt đối với tôi là đó là thứ duy nhất mà tôi có thể cống hiến hết mình. Tôi nhớ mình đã bị ám ảnh.”
Phân tích đáp án Cambridge 17 Reading Test 4
Mỗi thẻ tóm tắt vị trí thông tin, quan hệ diễn đạt lại và lý do chọn đáp án.
Passage 1 · Câu 1–13
Nghiên cứu không nhằm loại bỏ hoàn toàn côn trùng bằng dơi mà đánh giá khả năng kiểm soát tự nhiên; nhận định tuyệt đối nên FALSE.
Các nhà khoa học không khẳng định mọi loài dơi đều ăn cùng một loại sâu hại; thông tin trong câu hỏi trái với bài, chọn FALSE.
Bài không cho biết chính xác nông dân Costa Rica đã chủ động thu hút dơi từ thời điểm được nêu; đáp án NOT GIVEN.
Phân tích ADN trong phân dơi giúp nhận diện những loài côn trùng chúng đã ăn; nhận định phù hợp nên TRUE.
Không có dữ kiện so sánh chính xác hiệu quả của dơi giữa mọi trang trại hữu cơ và thông thường; chọn NOT GIVEN.
Bài xác nhận dơi có thể giảm nhu cầu dùng thuốc trừ sâu và mang lại lợi ích kinh tế cho người trồng; đáp án TRUE.
Các nhà nghiên cứu thu thập phân dơi để xác định khẩu phần qua ADN; từ cần điền trực tiếp là droppings.
Nghiên cứu được thực hiện tại các đồn điền cà phê, nên coffee hoàn chỉnh cụm danh từ trong phần ghi chú.
Ngoài sâu hại cây trồng, dơi còn ăn muỗi; mosquitoes là danh từ số nhiều đúng với nội dung bài.
Côn trùng cung cấp nguồn đạm trong khẩu phần của dơi; từ nguyên văn phù hợp giới hạn một từ là protein.
Một định kiến khiến dơi bị xem là loài bẩn; tính từ xuất hiện trong bài và đúng ngữ pháp là unclean.
Thái độ đối với dơi chịu ảnh hưởng của văn hóa địa phương; culture là danh từ cần điền trong bản tóm tắt.
Việc đặt các hộp hoặc nhà trú cho dơi gần trang trại được đề xuất; houses là từ đúng theo giới hạn đề bài.
Passage 2 · Câu 14–26
Đoạn E trình bày quan điểm hoài nghi về mối liên hệ trực tiếp giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế; đáp án E.
Đoạn A mở đầu bằng niềm tin phổ biến rằng đầu tư giáo dục thúc đẩy sự thịnh vượng của quốc gia; đáp án A.
Đoạn D đưa ra dữ liệu và những khó khăn khi chứng minh quan hệ nhân quả giữa giáo dục với tăng trưởng; đáp án D.
Đoạn F bàn về chất lượng học tập và điều kiện để giáo dục thực sự chuyển thành lợi ích kinh tế; đáp án F.
Đoạn C nhìn lại các nghiên cứu, phép đo và kết quả không đồng nhất giữa các quốc gia; đáp án C.
Lợi ích giáo dục có thể kéo dài sang các thế hệ sau; descendants là từ chỉ những người thừa hưởng tác động đó.
Ví dụ lịch sử nhắc đến một bài thuyết giảng có tác dụng lan truyền tư tưởng giáo dục; đáp án một từ là sermon.
Khoản phạt tạo động lực để người dân tuân thủ yêu cầu học tập; fine khớp nghĩa và đúng dạng danh từ số ít.
Giáo dục chỉ hỗ trợ tăng trưởng khi nền kinh tế có khả năng tạo và áp dụng đổi mới; innovation là đáp án trực tiếp.
Phương án B phản ánh đúng lập luận rằng số năm đi học không tự động đại diện cho chất lượng kiến thức đạt được.
Phương án E phù hợp với bằng chứng rằng tác động của giáo dục phụ thuộc vào thể chế và khả năng sử dụng kỹ năng.
Phương án B nêu đúng hạn chế của các phép so sánh quốc tế khi dữ liệu giáo dục không hoàn toàn tương đương.
Phương án D tóm tắt kết luận: cải thiện chất lượng học tập quan trọng hơn chỉ mở rộng thời gian đến trường.
Passage 3 · Câu 27–40
Đoạn D mô tả quy mô và độ khó đặc biệt của màn cờ tưởng tượng mà Gareyev thực hiện; đáp án D.
Đoạn E nói về cách kiện tướng theo dõi nhiều bàn cờ và tổ chức thông tin khi bị bịt mắt; đáp án E.
Đoạn F trình bày kiểm tra khoa học đối với não bộ và năng lực nhận thức của Gareyev; đáp án F.
Đoạn B giới thiệu hành trình thi đấu, tính cách và bối cảnh dẫn tới thử thách kỷ lục; đáp án B.
Đoạn H phân tích kết quả quét não và những khác biệt trong mạng lưới xử lý thông tin; đáp án H.
Đoạn E mô tả chiến lược mã hóa và định vị từng ván cờ trong đầu khi chơi đồng thời; đáp án E.
Bài nói Gareyev có năng lực rất cao nhưng không khẳng định trí nhớ chung của anh hoàn hảo hơn mọi người; mệnh đề FALSE.
Không có thông tin xác nhận anh đã dùng chính xác cùng một chiến thuật ghi nhớ từ thuở nhỏ; chọn NOT GIVEN.
Bài không so sánh trực tiếp kết quả của anh với toàn bộ kiện tướng khác trong điều kiện giống hệt nhau; NOT GIVEN.
Gareyev phải liên tục cập nhật vị trí quân của nhiều ván mà không nhìn bàn cờ; thông tin đồng ý nên TRUE.
Năng lực cốt lõi đầu tiên được kiểm tra là trí nhớ để giữ trạng thái của hàng loạt bàn cờ; đáp án memory.
Anh gắn các ván đấu với những con số nhằm phân biệt và truy xuất chúng; numbers là từ cần điền.
Quá trình thi đấu phụ thuộc vào việc đối thủ truyền nước đi và anh phản hồi lại; communication hoàn chỉnh bản tóm tắt.
Kết quả cho thấy khả năng xử lý không gian–hình ảnh nổi bật; visual là tính từ phù hợp vị trí và nội dung bài.



